Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

TỈNH ĐIỆN BIÊN


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 37/2023/HS-ST

Ngày: 28 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Cao Thị Hồng Minh

Bà Hoàng Thị Thái

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Ôn Thị Lệ Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn M

Tên gọi khác: Không

Sinh năm: 1989 tại tỉnh Điện Biên.

Nơi thường trú: Thôn C, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.

Nơi ở hiện tại: Tổ dân phố A, phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; Họ và tên cha (bố đẻ): Không biết, con bà: Võ Thị M (đã chết); Có vợ: Trương Thị S và có 01 con sinh năm 2019; Tiền án: không, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án số 11/2008/HSST ngày 13/11/2008 Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên xử phạt bị cáo 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tại Bản án số 97/2011/HSST ngày 17/6/2011 Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên xử phạt bị cáo 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong các bản án, được coi là đương nhiên xóa án tích; Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 28/QĐ-XPHC ngày 16/10/2007, bị Công an phường N, thành phố Đ xử phạt Cảnh cáo về hành vi trộm cắp vặt; Tại Quyết định số 2605 ngày 02/02/2003 bị UBND huyện Đ, tỉnh Lai Châu áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn 24 tháng. Bị cáo đã chấp hành xong các quyết định, được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị tạm giữ từ ngày 29/6/2023 sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Bà Trương Thị B - sinh năm 1978. Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 23 giờ 20 phút ngày 29/6/2023, tổ công tác Công an phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên đang làm nhiệm vụ tại khu vực Bản C, phường N, phát hiện Nguyễn Văn M đang điều khiển xe mô tô BKS 27B1-584.xx có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác yêu cầu dừng xe để kiểm tra, M khai nhận đang cất giấu ma túy và tự giác lấy ở dưới đùi phải trên mặt yên xe máy đang ngồi 01 gói được gói ngoài bằng 03 mảnh nilon màu hồng, tiếp đến là 02 mảnh nilon màu trắng bên trong có chứa 94 viên nén (trong đó có 93 viên màu hồng, 01 viên màu xanh) trên mặt của mỗi viên nén có ký hiệu WY ra giao nộp. Nguyễn Văn M khai nhận đó là ma túy (Hồng phiến), M mua về để sử dụng cho bản thân.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn M khai nhận: Số ma túy bị thu giữ do bị cáo vừa mua của người đàn ông không quen biết ở khu vực Bản X, xã Th, huyện Đ, tỉnh Điện Biên với giá 1.500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy bị cáo để dưới đùi phải trên mặt yên xe máy mình đang ngồi rồi điều khiển xe đi về thì bị phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm: 94 viên nén (được gói như trên), tổng khối lượng 9,37 gam; xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JUPITER MX, BKS 27B1-584.xx kèm chìa khóa của xe.

Tại bản kết luận giám định số 1107/KL-KTHS ngày 07/7/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Khối lượng vật chứng ký hiệu M1: 9,27 gam, M2: 0,1 gam. Mẫu các viên nén màu hồng gửi giám định ký hiệu M1 là chất ma túy: Loại Methamphetamine. Không tìm thấy chất ma túy trong mẫu viên nén màu xanh ký hiệu M2 gửi giám định. Hoàn lại đối tượng giám định có tổng khối lượng M1: 7,42 gam, M2: 0,06 gam có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo.

Tại bản cáo trạng số 164/CT-VKSTPĐBP ngày 01/11/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249/BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38/BLHS: Xử phạt bị cáo từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 7,42 gam Methamphetamine, 0,06 gam mẫu viên nén màu xanh không phải là ma túy là vật chứng còn lại sau giám định và 03 mảnh nilon màu hồng, 02 mảnh nilon màu trắng không có giá trị sử dụng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì về phần luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, bị cáo không bào chữa gì cho hành vi của mình.

Lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, hối cải về hành vi của mình, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để cho bị cáo có cơ hội sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma túy niêm phong lại vật chứng, Kết luận giám định...Do đó, có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 23 giờ 20 phút ngày 29/6/2023 tại khu vực Bản C, phường N, thành phố Đ, Nguyễn Văn M đã có hành vi cất giấu trái phép 9,27 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249/BLHS.

Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý.

[2]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52/BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Năm 2008 bị Tòa án nhân dân thành phố Đ xử phạt 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Năm 2011 bị Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong các bản án, được coi là đương nhiên xóa án tích.

Trước đó, năm 2003 bị UBND huyện Đ, tỉnh Lai Châu áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn 24 tháng; năm 2007 bị Công an phường N, thành phố Đ xử phạt Cảnh cáo về hành vi trộm cắp vặt. Bị cáo đã chấp hành xong các quyết định, được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Ngoài ra, theo thống kê tiền án, tiền sự của Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Điện Biên thể hiện: Ngày 19/02/2004 bị cáo bị Công an huyện Đ bắt về hành vi Đánh bạc; Ngày 04/7/2007 bị Công an thành phố xử phạt Cảnh cáo về hành vi Gây rối trật tự công cộng. Tuy nhiên, qua xác minh không có tài liệu xử lý về vụ việc này.

Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học cho mình, sử dụng ma túy - đây cũng là nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo phạm tội.

Hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo nên hội đồng xét xử chấp nhận. Cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù phù hợp, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục, cho bị cáo có thời gian cai nghiện để trở thành công dân tốt, có ý thức tuân thủ pháp luật.

[3]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS thì ngoài hình phạt chính người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng... Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, lao động tự do không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có khả năng thi hành.

[4]. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:

Đối với 9,27 gam Methamphetamine thu giữ của bị cáo, sau khi gửi toàn bộ giám định còn lại 7,42 gam, 01 viên nén màu xanh khối lượng 0,1 gam sau khi gửi toàn bộ giám định còn lại 0,06 gam không phải là ma túy - vật chứng còn lại của vụ án, là vật Nhà nước cấm tàng trữ, vật không có giá trị; 03 mảnh nilon màu hồng, 02 mảnh nilon màu trắng là vật dùng gói ma túy không có giá trị, không sử dụng được nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Đối với chiếc xe mô tô thu giữ của bị cáo BKS 27B1-584.xx kèm chìa khóa của xe. Quá trình điều tra xác định là tài sản của bà Trương Thị B cho bị cáo mượn, không biết bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chủ sở hữu. Việc tra lại xe là đúng quy định, bà B không có khiếu nại gì nên HĐXX không đề cập giải quyết.

[5]. Các vấn đề khác: Đối với đối tượng bị cáo khai đã bán ma túy, quá trình điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề cập nên hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[6]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo, người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tổ tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đều hợp pháp.

[7]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 331, 333, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (29/6/2023).

2. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 7,42 gam Methamphetamine và 0,06 gam (không phải là ma túy) vật chứng còn lại sau giám định, 03 mảnh nilon màu hồng, 02 mảnh nilon màu trắng. (Đã niêm phong)

(Vật chứng đã được Công an thành phố Điện Biên Phủ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/11/2023).

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/11/2023). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có QL, NV liên quan;
  • - VKSND TP ĐBP;
  • - VKSND tỉnh ĐB;
  • - Cơ quan điều tra Công an TP ĐBP
  • - Cơ quan THAHS TP ĐBP;
  • - TAND tỉnh Điện Biên;
  • - Trại tạm giam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh ĐB;
  • - Chi cục THADS TP ĐBP;
  • - HS THAHS;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Minh Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 37/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN VĂN M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger