Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày 27 tháng 4 năm 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hòa và ông Trần Quang Thái.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Phương Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị D, sinh ngày 25/9/1987. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1954, con bà Dương Ngọc B, sinh năm 1962 (đã chết); anh chị em có ba người, bị cáo là người thứ ba; Chồng tên Nguyễn Văn N, sinh năm 1986; Con có 03 người, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Nguyễn Hoài V, sinh năm 2005. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang (đã chết).

Đại diện bị hại: Ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1984. Nơi cư trú: ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1952. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt)

2

2/ Anh Nguyễn Thành T, sinh năm 1987. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt)

Người làm chứng:

1/ Anh Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1988 (vắng mặt)

2/ Ông Lưu Văn H, sinh năm 1971 (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 07/06/2023, Nguyễn Thị D biết rõ Nguyễn Hoài V, sinh ngày 23/12/2005 là con ruột của D không có giấy phép lái xe hạng A1, nhưng vẫn giao xe mô tô biển số 67N1-145.08 để V điều khiển chở D và Nguyễn Ngọc V1 (con ruột D) đến Bệnh viện T2 thuộc ấp T, xã T, huyện T khám bệnh. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, sau khi khám bệnh xong D tiếp tục giao xe mô tô 67N1-145.08 để V điều khiển chở D, V1 về nhà. V điều khiển xe trên đường T, khi đến đoạn thuộc ấp S, xã V, huyện T, V không làm chủ tay lái để xe lấn sang phần đường bên trái đụng vào xe mô tô biển số 68S5-2724 do Nguyễn Thành T điều khiển một mình, phía sau xe có lắp khung tự chế dàn loa âm thanh, đang di chuyển hướng ngược lại làm V ngã xuống đường, được mọi người đưa đến Bệnh viện Đ1 cấp cứu, điều trị. Đến ngày 09/6/2023, V chết.

Vật chứng thu giữ: Xe mô tô biển số 67N1-145.08, màu sơn đen, nhãn hiệu HONDA, số loại FUTURE FI, số khung 009672, số máy 014622; Xe mô tô biển số 68S5-2724, màu sơn xanh, nhãn hiệu FIMEX, số khung 1010127918, số máy 10127918 và 01 dàn loa âm thanh.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 07/6/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, ghi nhận:

Hiện trường xảy ra trên đường tỉnh 943, cách cầu B 4 khoảng 200 mét về hướng V. Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đường thẳng, tầm nhìn không bị che khuất, có chiều rộng toàn bộ mặt đường là 6,3 mét, mặt đường được trải nhựa, ở giữa là vạch kẻ đường nét đứt màu vàng chia đường thành hai phần đường xe chạy ngược chiều nhau, phần đường bên phải hướng Ó - Núi Sập có chiều rộng 3,1 mét, phần đường bên trái hướng Ó - N nơi xảy ra tai nạn có vết sụt lún, kích thước (8,5 x 2,5) mét. Chọn cột điện số 474TS/325 bên trái đường tỉnh 943 hướng Ó - Núi Sập làm điểm mốc cố định. Chọn mép lề bên phải của đường tỉnh 943 hướng Ó - Núi Sập làm mép lề chuẩn.

- Hiện trường tiến hành khám nghiệm theo hướng Ó- N:

  • + Vị trí số (1) là xe mô tô biển số 67N1-145.08, xe ngã về bên trái; trục trước hướng về cột điện số 474TS/325, trục sau hướng về mép lề chuẩn; trục trước cách mép lề chuẩn là 6,2 mét, cách cột điện 474TS/325 là 05 mét, trục sau cách mép lề chuẩn là 5,3 mét; Trên mặt đường nhựa phía dưới xe máy biển số 67N1-145.08 là vết cày, dài 0,45 mét, xuất phát hướng mép lề chuẩn về hướng cột điện 474TS/325, đầu vết cày cách mép lề chuẩn là 5,2 mét, điểm cuối vết cày

3

  • kết thúc tại đầu gác chân trước bên trái xe máy biển số 67N1-145.08, cách mép lề chuẩn là 5,6 mét; Trên mặt đường nhựa cách trục trước xe máy biển số 67N1-145.08 là 1 mét, cách mép lề chuẩn là 5,2 mét đây là vết màu nâu (nghi máu), kích thước (1 x 0,6) mét.
  • + Vị trí số (2) là loa thùng, kích thước (0,49 x 0,48 x 1,12) mét, góc trên bên phải mặt trước thùng loa cách mép lề chuẩn là 1,35 mét, góc dưới bên phải mặt trước cách mép lề chuẩn là 2 mét. Mặt trước có vết mài mòn kim loại và bị thụng biến dạng vào trong, ngay góc trên bên trái mặt trước có vết bể vỡ gỗ, kích thước (0,04 x 0,02) cm, trên vết thủng phát hiện mảnh vỡ màu trắng, trong suốt, kích thước (0,003 x 0,003) mét; mặt sau bên phải cách mặt dưới 0,4 mét phát hiện vết bong tróc kích thước (0,05 x 0,04) mét; cách mép lề chuẩn 1,2 mét về hướng Óc Eo là khung kim loại màu đen, mặt trước, phía dưới bên phải có vết trượt - bong tróc sơn, kích thước (0,085 x 0,06) mét.
  • + Vị trí số (3) là nhiều mãnh vỡ li ti màu trắng, trong suốt và nhiều vết cày chấm xuất phát hướng N - Ó, kích thước (1 x 1,2) mét, tâm vết cách mép lề chuẩn là 2,2 mét, cách mặt dưới loa thùng là 0,6 mét, cách trục sau xe máy biển số 67N1-145.08 là 3,55 mét.
  • + Vị trí số (4) là vết cày - vết trượt không liên tục, kích thước (0,22 x 9,8 x 0,8) mét, xuất phát hướng Ó - N, tâm đầu vết cày cách mép lề chuẩn là 2,7 mét, cách vị trí số 03 là 2,8 mét, điểm cuối vết cày kết thúc tại mặt dưới, bên phải xe máy biển số 68S5- 2724, tâm vết cách mép lề chuẩn là 1,35 mét.
  • + Vị trí số (5) là vết cày, vết cày dài 1,35 mét, xuất phát hướng Ó - N, đầu vết cày cách mép lề chuẩn là 0,8 mét, cách tâm đầu vết cày tại vị trí số 04 là 9,1 mét, điểm cuối vết cày kết thúc tại đầu thanh kim loại (thanh kim loại được bắt cố định dùng để nâng xe), cách mép lề chuẩn là 0,85 mét.
  • + Vị trí số (6) là xe máy biển số 68S5-2724, xe ngã về bên phải, trục trước hướng về mép lề chuẩn, trục sau hướng về Núi Sập; trục trước cách mép lề chuẩn là 0,1 mét, trục sau cách mép lề chuẩn là 0,85 mét, cách trục sau xe máy biển số 67N1-145.08 là 15,4 mét, trên xe phía sau có lắp khung kim loại, trên khung kim loại bên phải có đặt loa thùng bằng gỗ màu đen, kích thước (0,49 x 0,48 x 1,12) mét, mặt dưới khung phía ngoài có dính lớp nhựa màu đen dài 0,22m, ở giữa có lắp Tivi và bộ lọc âm thanh, khung kim loại bên trái phía trong có dấu vết gãy kim loại, thanh kim loại phía trên bị cong biến dạng hướng từ trước ra sau, cách nền 1 mét.

Biên bản khám phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông ngày 07/6/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, ghi nhận:

Xe mô tô biển số 67N1-145.08 có các dấu vết sau:

  • Chắn bùn trước vỡ phức tạp.
  • Mặt nạ trước; đèn tín hiệu bên trái vỡ phức tạp.
  • Mặt trước đèn pha có vết trầy xước, hướng từ phải qua trái.
  • Mặt đồng hồ, nắp sau tay lái bên trái bị vỡ phức tạp.

4

  • Kính gương chiếu hậu bên trái bị vỡ.
  • Phuộc xe trước cong biến dạng hướng từ trước ra sau.
  • Mặt trước niền xe bên trái bị biến dạng, thụng vào trong, kích thước (2x0,5)cm hướng từ trước ra sau.
  • Mặt trước bên phải lốp xe trước có vết thủng, kích thướ c (1 x0,2)cm tương ứng với vết biến dạng mặt trước niền xe bên trái.
  • Mặt trước - ngoài yếm xe bên trái bị trầy xước, vỡ phức tạp hướng từ trước ra sau.
  • Mặt ngoài đầu gác chân trước bên trái có vết mài mòn kim loại, kích thước (2x2)cm, hướng từ trước ra sau.

Xe mô tô biển số 68S5-2724 có các dấu vết sau:

  • Không có kính gương chiếu hậu bên trái.
  • Đồng hồ, ốp tay dưới bị gãy mốc rời khỏi vị trí ban đầu.
  • Trên xe phía sau có gắn khung kim loại (Loại sắt chữ L được hàn gắn cố định thành khung), kích thước (1,7 x 0,5 x 0,7) mét, mặt dưới khung kim loại cách nền 0,4 mét, trên khung kim loại bên phải có đặt loa thùng màu đen, kích thước (0,49 x 0,48 x 1,12) mét, mặt ngoài loa thùng có vết trầy xước, mặt ngoài khung kim loại bên phải bị trầy xước hướng từ trước ra sau, mặt dưới khung kim loại phía ngoài bên phải bị trầy xước, dính nhựa màu đen, K kim loại bên trái phía trong có dấu vết gãy kim loại, thanh kim loại phía trên bị cong biến dạng hướng từ trước ra sau.

Phiếu đo nồng độ cồn lúc 16 giờ 12 phút ngày 07/6/2023 của Công an huyện T, ghi nhận: Nguyễn Thành T nồng độ cồn đo được là 0,463miligam/1lít khí thở.

Phiếu xét nghiệm huyết học của Trung tâm y tế huyện T vào lúc 15 giờ 52 phút ngày 07/6/2023, ghi nhận: Nguyễn Hoài V sinh năm 2005, địa chỉ xã T, huyện T, tỉnh An Giang có định lượng Ethanol (cồn) máu là 02mg/100ml/máu.

Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 186/23/KLGĐTT-TTPY ngày 09/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh A, đối với Nguyễn Hoài V sinh năm 2005, ghi nhận:

  • - Dấu hiệu chính qua giám định:
  • + Sưng nề, bầm máu, sây sát vùng đầu mặt; Vỡ phức tạp xương sọ và khối xương hàm mặt; Bầm tụ máu dưới da vùng thái dương trái; Xuất huyết dưới nhện lan tỏa hai bán cầu não; dập phù não, mất rãnh cuộn não; Xuất huyết trong não thất hai bên.
  • + Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não nặng, xuất huyết dưới nhện, dập phù não.
  • + Kết luận khác: Cơ chế do đầu va đập rất mạnh vào vật tày cứng.

5

Ngày 04/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã trả 01 dàn loa âm thanh cho Nguyễn Thành T.

Tại Cáo trạng số 14/CT-VKSTS-HS, ngày 12/01/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị D về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Cơ quan điều tra bị cáo Nguyễn Thị D khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị D vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên.

Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thành Đ khai phù hợp như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng các lời khai tại Cơ quan điều tra đều khai phù hợp như nội dung đã nêu trên.

Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 264; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D từ 06 tháng đến 01 năm cải tạo không giam giữ về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. Về trách nhiệm dân sự: Do đại diện bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đề cập xem xét. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng đều vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy sau khi vụ án xảy ra; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội

6

đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 293, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, về thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm và hậu quả do tội phạm gây ra cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận:

Ngày 07/6/2023, Nguyễn Thị D biết rõ Nguyễn Hoài V không có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định, nhưng vẫn giao xe mô tô biển số 67N1-145.08 cho V điều khiển gây tai nạn làm V tử vong.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã vi phạm quy định khoản 1 Điều 58 Luật Giao thông đường bộ về người tham gia giao thông không có giấy phép lái xe, đã phạm vào tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự năm 2015, có khung hình phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

[3] Hành vi phạm tội bị cáo Nguyễn Thị D là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn công cộng, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, tính mạng của con người, gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm cho quần chúng nhân dân bất bình lo lắng mỗi khi tham gia giao thông. Vì vậy, cần phải xét xử bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy: Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt vì chưa có tiền án, tiền sự, hành vi bị cáo được thực hiện với lỗi vô ý. Khi giao xe cho V tham gia giao thông bị cáo không thấy trước hậu quả có thể xảy ra, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả xảy ra.

Về tình tiết tăng nặng:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo xuất thân thành phần lao động, hiểu biết pháp luật hạn chế; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện hợp pháp bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét thấy: Bị cáo Nguyễn Thị D là người có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này, bị cáo chưa từng vi phạm pháp luật. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử xét thấy cho bị cáo được cải tạo không giam giữ như đại diện Viện Kiểm sát đề nghị cũng đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

7

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 264 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Xét thấy bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

[6] Về phần trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô biển số 67N1 – 145.08, màu sơn đen, nhãn hiệu Honda, số khung 5380EY009672, số máy JC54E2014622 ; xe mô tô biển số 68S5 – 2724, màu xanh, nhãn hiệu FIMEX, số khung 831010127918, số máy 10127918 (đã qua sử dụng). Xét thấy cần trả lại cho bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 264, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh An Giang nhận được quyết định và bản sao bản án.
  • Giao bị cáo Nguyễn Thị D cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo D có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh An Giang trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo
  • Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị D xe mô tô biển số 67N1 – 145.08, màu sơn đen, nhãn hiệu Honda, số khung 5380EY009672, số máy JC54E2014622 (đã qua sử dụng); trả lại cho Nguyễn Thành T xe mô tô biển số 68S5 – 2724, màu xanh, nhãn hiệu FIMEX, số khung 831010127918, số máy 10127918 (đã qua sử dụng). (Các vật chứng này hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 07/QĐ-VKSTS ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn).
  • Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Thị D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

8

Bị cáo, đại diện hợp pháp bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp An Giang;
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Thoại Sơn;
  • - Cơ quan THA hình sự huyện Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Văn Triều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 27/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG về hình sự (giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị D phạm tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phượng tiện tham giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger