TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH V Bản án số: 37/2024/HNGĐ- ST Ngày 26 tháng 9 năm 2024 “V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH V
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Bình Thuận
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Khảm
- 2. Ông Đỗ Hồng Phúc
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân huyện Y.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tham gia phiên toà: Ông Lưu Hải Dương – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh V, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 53/2024/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh V,(Có mặt).
- Bị đơn: Anh Đỗ Hoàng P, sinh năm 1987; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 15/5, tổ 11, khu phố 2, phường H thành phố T, tỉnh B Nay đang trú tại: 106, Lê Chí D, tổ 2, phường H, thành phố T, tỉnh B,(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn ngày 01/12/2024 cùng các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Chị kết hôn với anh Đỗ Hoàng P ngày 26/9/2019. Trước khi cưới có tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H. Sau khi kết hôn vợ chồng đi làm ăn ở tỉnh B sau đó về quê nhà chị ở Trung N làm ăn. Tình cảm vợ chồng ban đầu bình thường nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh P không chỉn chu làm ăn và vợ chồng không hợp nhau cách cư sử trong cuộc sống cũng như cách tình toán làm ăn kinh tế trong gia đình dẫn đến hay cãi nhau sứt mẻ tình cảm và sống ly thân từ năm 2012 đến nay. Quá trình sống ly thân ai có việc thì người đó làm không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn xin được ly hôn anh P.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Đỗ Hoàng Chấn H sinh ngày 24/8/2019, hiện đang ở với chị. Ly hôn chị xin nuôi cháu H và không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức, đất canh tác: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Đỗ Hoàng P vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại bản tự khai ngày 24/5/2024 anh trình bày:
Anh xác nhận điều kiện kết hôn và quá trình chung sống như chị T trình bày là đúng. Về nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống dẫn đến không ở với nhau nữa và sống ly thân từ 2022 đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn chị T xin ly hôn anh đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Đỗ Hoàng Chấn H sinh ngày 24/8/2019, hiện đang ở với chị T. Ly hôn anh đồng ý để chị T nuôi dưỡng cháu H anh không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức, đất canh tác; Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y trình bày quan điểm như sau:
Về tố tụng: Tòa án và các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T cho chị Nguyễn Thị T và anh Đỗ Hoàng P được ly hôn.
- - Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị T được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hoàng Chấn H sinh ngày 24/8/2019 (Hiện đang ở với chị T). Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- - Tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức, đất canh tác: Không xem xét giải quyết.
- - Về án phí, chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị T nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn anh P. Bị đơn anh P có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại 15/5, tổ 11, khu phố 2, phường H, thành phố T, tỉnh B; Nay đang trú tại: 106, Lê Chí Dân, tổ 2, phường H, thành phố T, tỉnh B nhưng chị T và anh P đều có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Y giải quyết ly hôn. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Y theo quy định tại các Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Đỗ Hoàng P đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, được Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh B hường dẫn anh P viết bản tự khai và anh đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Đỗ Hoàng P theo quy định tại khoản 2, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T kết hôn với anh Đỗ Hoàng P ngày 26/9/2019 trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố T, tỉnh B đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống do bất đồng quan điểm dẫn đến anh chị hay cãi nhau và phải sống ly thân. Xét thấy thời gian anh chị sống ly thân dài không cải thiện được tình cảm, nay cả anh và chị đều thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn và xin được ly hôn, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị T và anh P xử cho anh chị ly hôn để các bên ổn định cuộc sống riêng của mình.
[3] Về con chung: Chị T, anh P xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Đỗ Hoàng Chấn H sinh ngày 24/8/2019, hiện đang ở với chị T. Ly hôn anh chị thỏa thuận để chị T tiếp tục nuôi dưỡng cháu H, anh P không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tại biên bản xác minh, UBND xã T cho biết chị T đang ở tại nhà của bố mẹ, có thu nhập 7.000.000 đồng/01 tháng. Xét đề nghị giao nuôi con chung của anh chị thấy phù hợp thực tế và pháp luật, vậy cần chấp nhận yêu cầu về nuôi con chung của anh chị, giao cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục cháu H. Về cấp dưỡng nuôi con, chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, xét thấy việc không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị là tự nguyện và phù hợp pháp luật cần chấp nhận.
[4] Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức, đất canh tác: Chị T, anh P không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
[6] Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Y đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T và anh Đỗ Hoàng P được ly hôn.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị T được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đỗ Hoàng Chấn H sinh ngày 24/8/2019 (Hiện đang ở với chị T). Anh Đỗ Hoàng P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức, đất canh tác: Chị Nguyễn Thị T và anh Đỗ Hoàng P không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003218 ngày 03/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y. Chị T đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bình Thuận |
Bản án số 37/2024/HNGĐ- ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH V về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 37/2024/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH V
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh kết hôn với chị Lương Thị Y ngày 14/02/2007. Trước khi cưới có tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Y, tỉnh V. Sau khi kết hôn, chị Y về chung sống với gia đình anh. Thời gian đầu tình cảm vợ chồng bình thường sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do chị Y không quan tâm chăm lo đến gia đình và vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn xin được ly hôn chị Y.
