Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37 /2024/HNGĐ-ST

Ngày 26 tháng 7 năm 2024

Về việc: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hợi
  2. Bà Vũ Thị Ngọc Phan

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình: Không tham gia phiên tòa

Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 100/2024/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1988

Địa chỉ: Xóm H, xã T huyện P, tỉnh Thái Nguyên

(Chị Q có mặt tại phiên tòa)

Bị đơn: Anh Dương Quang T, sinh năm 1984

Địa chỉ: Xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Anh T có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Dương Quang T tự nguyện kết hôn, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 20/3/2007, có được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn chị về nhà anh T làm dâu, chung sống cùng gia đình chồng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc, sau đó vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống hàng ngày luôn xảy

ra cãi vã. Nguyên nhân do anh T ham chơi, không chịu tu chí làm ăn, giữa anh chị có những bất đồng quan điểm trong sinh hoạt hàng ngày và cả vấn đề về kinh tế nên thường xuyên cãi chửi nhau, khiến cho không khí gia đình luôn căng thẳng ngột ngạt. Không thể chịu đựng được chị phải về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay và không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Dương Quang T.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là: Dương Quang Đ, sinh ngày 17/02/2008; Dương Thị H, sinh ngày 07/01/2010 và Dương Thị Ngọc T1, sinh ngày 19/9/2019. Khi ly hôn chị có nguyện vọng muốn được trực tiếp nuôi cháu Dương Thị Ngọc T1 vì cháu còn quá nhỏ, hiện cháu đang ở ổn định cùng chị và chị đồng ý giao cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai cháu là Dương Quang ĐDương Thị H, do các cháu đang sống cùng anh T. Chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về công nợ chung: Không có nợ chung.

Bị đơn anh Dương Quang T trong quá trình giải quyết trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Q tự nguyện kết hôn vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T. Sau khi kết hôn chị Q về nhà anh làm dâu, anh chị sinh sống, làm ăn tại địa phương. Vợ chồng chung sống hòa thuận, tuy có xảy ra mâu thuẫn nhưng chỉ là những mâu thuẫn nhỏ trong gia đình. Đầu năm 2024, chị Q tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, anh đã nhiều lần đến khuyên chị Q về nhà, vợ chồng chung sống cùng nhau để nuôi dạy con cái nhưng chị Q không nghe và cố ý lẩn tránh không gặp anh. Anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, mong muốn vợ chồng quay về đoàn tụ để cho các con có bố, có mẹ. Vì vậy, anh không nhất trí ly hôn với chị Q.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là: Dương Quang Đ, sinh ngày 17/02/2008; Dương Thị H, sinh ngày 07/01/2010 và Dương Thị Ngọc T1, sinh ngày 19/9/2019. Trường hợp phải ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con chung là cháu Dương Quang ĐDương Thị H vì các cháu đang sống ổn định cùng anh, anh đồng ý để chị Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Dương Thị Ngọc T1. Anh không yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về công nợ chung: Không có nợ chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã kiên trì hòa giải, tạo điều kiện cho các đương sự có thời gian để suy nghĩ, tìm biện pháp giải quyết mâu thuẫn vợ chồng, với mục đích để vợ chồng về đoàn tụ cùng nhau xây dựng hạnh

phúc gia đình. Tuy nhiên, các bên đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm của mình và không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Vì vậy, Tòa án phải quyết định đưa vụ án ra xét xử công khai theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa: Chị Q vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn với anh T, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung là cháu T1 và đồng ý giao cháu Đ và cháu H cho anh T nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung không yêu cầu giải quyết, nợ chung chị xác định không có. Anh T không nhất trí ly hôn, anh mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để cùng chăm sóc các con. Do chị Q vẫn kiên quyết ly hôn nên anh yêu cầu được trực tiếp nuôi cả 3 con chung, anh không yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung anh không yêu cầu giải quyết, về nợ chung anh xác định không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Q và anh Dương Quang T kết hôn đã được Ủy ban nhân dân xã T cấp giấy chứng nhận kết hôn số 23 vào ngày 20/3/2007. Vì nhiều nguyên nhân, nay chị Nguyễn Thị Q khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Dương Quang T có nơi cư trú tại xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án Hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Q và anh Dương Quang T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo luật định. Vì vậy, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Lý do chị Q xin ly hôn anh T là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh T ham chơi hay tụ tập với bạn bè, không lo làm ăn, không có trách nhiệm với vợ con và gia đình, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày và những vấn đề liên quan đến kinh tế, khiến cho cuộc sống gia đình luôn căng thẳng, ngột ngạt. Hiện vợ chồng đã sống ly thân nhau, không ai quan tâm đến ai. Nay chị Q xác định tình cảm vợ chồng không còn nên làm đơn xin ly hôn với anh T. Trong quá trình giải quyết anh T cũng xác nhận vợ chồng hiện đang sống ly thân nhau, mặc dù vợ chồng có mâu thuẫn nhưng chỉ là mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt gia đình. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để cho các con có bố có mẹ nên anh T không nhất trí ly hôn với chị Q.

Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa chị Q kiên quyết yêu cầu xin ly hôn với anh T, phía anh T không nhất trí ly hôn

nhưng cũng không đưa ra được phương án nào để thuyết phục chị Q về đoàn tụ. Bản thân anh T cũng xác nhận anh đã nhiều lần động viên chị Q quay về nhưng chị Q không đồng ý, hiện nay vợ chồng vẫn đang sống ly thân. Như vậy, Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn giữa chị Q và anh T đã ở tình trạng trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung vợ chồng không tồn tại nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Q, cho chị Q được ly hôn với anh T là phù hợp với thực tế và quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Chị Q và anh T có 03 con chung là cháu Dương Quang Đ, sinh ngày 17/2/2008; Dương Thị H, sinh ngày 07/01/2010 và cháu Dương Thị Ngọc T1, sinh ngày 19/9/2019.

Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Q và anh Dương Quang T đều có nguyện vọng muốn được trực tiếp nuôi con chung. Chị Q và anh T đều có nguyện vọng muốn được trực tiếp nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay cháu T1 đang sống ổn định với chị Q, cháu Đ và cháu H đang sống ổn định cùng anh T, cháu T1 là con gái lại còn rất nhỏ, không nên làm sáo trộn, ảnh hưởng đến cuộc sống của các cháu. Vì vậy, cần giao cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Dương Thị Ngọc T1, sinh ngày 19/9/2019, anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Dương Quang Đ, sinh ngày 17/02/2008 và cháu Dương Thị H, sinh ngày 07/01/2010 là phù hợp với thực tế và pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Q và anh T đều không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về quyền thăm nom con: Sau khi ly hôn, chị Q và anh T, có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

[2.4] Về công nợ chung: Chị Q và anh T đều xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Q phải chịu án phí Ly hôn sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.

[2.6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 271 và Điều 273 của BLTTDS năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51và Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu kiện của chị Nguyễn Thị Q, cho chị Q được ly hôn với anh Dương Quang T.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Dương Thị Ngọc T1, sinh ngày 19/9/2019, anh Dương Quang T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Dương Quang Đ, sinh ngày 17/2/2008 và cháu Dương Thị H, sinh ngày 07/01/2010 cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

Về cấp dưỡng nuôi con: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về quyền thăm nom con: Chị Q và anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị Q và anh T có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết

4. Về công nợ chung: Các đương sự đều xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Q phải chịu 300.000 đồng án phí Ly hôn sơ thẩm sung quỹ Nhà nước, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí Ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003828 ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt chị Q, anh T báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên (01 bản);
  • - VKS ND huyện, tỉnh (02 bản);
  • - T.H.A DS huyện (01 bản);
  • - Các đương sự trong vụ án;
  • - UBND xã Tân Kim;
  • - Lưu HS, VP, bộ phận;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thủy

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn

  • Số bản án: 37/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger