|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26 -04-2024 V/v: “Xác định cha cho con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh Sơn
Bà Mai Lương Anh
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Quang. Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Đạt - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng; xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 872/2023/TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp: “Xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Trường S, sinh năm: 1989.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số A, đường B, Phường C, thành phố Đ,
tỉnh Lâm Đồng.
Hiện đang cư trú tại: số G, đường N, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm
Đồng, có mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Tâm C, sinh năm: 1988.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Hiện đang cư trú tại: số G, đường N, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm
Đồng, có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Quyết T, sinh năm: 1983.
Địa chỉ: P, số nhà A, khu I, ngõ D N, phường B, quận H, thành phố Hà Nội,
vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Vũ Thị Trường S trình bày: Năm 2008, chị và anh Lê Quyết T xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống vợ chồng không hợp nhau nên đầu năm 2018 chị và anh T đã sống ly thân nhau và chị chuyển vào thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng sinh sống. Năm 2019, chị có quan hệ tình cảm với anh Nguyễn Tâm C, chị và anh C có với nhau một con chung là cháu Vũ Nguyễn Tâm T1, sinh ngày 13/07/2020. Tuy nhiên, tại thời đểm chị và anh C có con chung với nhau thì chị và anh Lê Quyết T chưa làm thủ tục ly hôn. Năm 2022, chị và anh Lê Quyết T mới làm đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân Quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội nhưng chị không trình bày về việc chị có con chung với anh C. Tại quyết định Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 316/2022/QÐST-HNGĐ ngày 31/5/2022 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội đã Công nhận thuận tình ly hôn của chị, anh Lê Quyết T và việc nuôi con chung của chị và anh T. Hiện nay chị và anh Nguyễn Tâm C tiến hành đi làm thủ tục đăng ký giấy khai sinh cho con nhưng không làm được. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án xác định anh Nguyễn Tâm C là cha đẻ của cháu Vũ Nguyễn Tâm T1 để chị có căn cứ đi đăng ký giấy khai sinh cho con và cho cháu đi học để không bị thiệt thòi.
Bị đơn anh Nguyễn Tâm C trình bày: Năm 2019 anh có mối quan hệ tình cảm với chị Vũ Thị Trường S, anh và chị S có với nhau một con chung là cháu Vũ Nguyễn Tâm T1, sinh ngày 13/07/2020. Tại thời đểm anh và chị S có con chung với nhau thì chị S và anh Lê Quyết T chưa làm thủ tục ly hôn. Năm 2022, chị S và anh Lê Quyết T mới làm đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân Quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Sau khi chị S hoàn tất thủ tục ly hôn, anh và chị S đi làm thủ tục đăng ký giấy khai sinh cho con chung là Vũ Nguyễn Tâm T1 nhưng không đăng ký được và yêu cầu anh phải bổ sung quyết định công nhận mối quan hệ cha con giữa anh và cháu Vũ Nguyễn Tâm T1. Nay chị S yêu cầu Tòa án xác định anh là cha đẻ của cháu Vũ Nguyễn Tâm T1, sinh ngày 13/07/2020 thì anh cũng đồng ý vì anh và chị S đã đi làm thủ tục giám định ADN giữa anh và cháu Vũ Nguyễn Tâm T1, sinh ngày 13/07/2020, kết quả giám định ADN cho thấy anh chính là cha đẻ của cháu Vũ Nguyễn Tâm T1. Anh đề nghị Tòa án giải quyết sớm để anh và chị S có căn cứ đi làm thủ tục đăng ký giấy khai sinh cho con theo quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Quyết T trình bày: Anh và chị S là vợ chồng, có đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2008 đến năm 2022 thì anh và chị S làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Trong thời gian anh và chị S sống ly thân nhưng chưa ly hôn thì chị S và anh Nguyễn Tâm C có quan hệ tình cảm với nhau và có 01 con chung là cháu Vũ Nguyễn Tâm T1, sinh ngày 13/7/2020. Anh xác định cháu Vũ Nguyễn Tâm T1 là con chung của anh Nguyễn Tâm C và chị S, không phải con của anh. Nay chị S yêu cầu Tòa án xác định cháu Tâm T1 là con của anh C thì anh cũng đồng ý, anh đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng anh T vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, chị Vũ Thị Trường S vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án xác định cháu Vũ Nguyễn Tâm T1, sinh ngày 13/07/2020 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh L, theo giấy chứng sinh số 2869, quyển số 31 là con ruột của anh Nguyễn Tâm C.
Anh Nguyễn Tâm C đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Trường S.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Quyết T có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, các đương sự và Hội đồng xét xử. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Vũ Thị Trường S về việc xác định cha cho con. Xác định anh Nguyễn Tâm C là cha ruột của cháu trai tên gọi là Vũ Nguyễn Tâm T1 do chị S sinh ra ngày 13/7/2020 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh L, giấy chứng sinh số 2869, quyển số 31.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Quyết T đã được triệu tập hợp lệ trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tham gia phiên tòa hôm nay và anh T có đơn xin giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 cần xem xét xử vắng mặt anh T theo thủ tục chung là phù hợp.
[2] Chị Vũ Thị Trường S và anh Lê Quyết T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2008, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống do vợ chồng không hợp nhau nên chị S và anh T đã sống ly thân nhau. Năm 2019, chị S vào thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng làm ăn sinh sống và có quan hệ tình cảm với anh Nguyễn Tâm C. Chị S và anh C đã có với nhau một con chung là cháu Vũ Nguyễn Tâm T1, sinh ngày 13/07/2020. Đến đầu năm 2022 chị S và anh T mới làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Tại quyết định Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 316/2022/QÐST-HNGĐ ngày 31/5/2022 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội đã Công nhận thuận tình ly hôn của chị S, anh Lê Quyết T và việc nuôi 02 con chung của chị S và anh T, ngoài ra không còn con chung nào khác. Trong thời gian chị Vũ Thị Trường S và anh Lê Quyết T chưa làm thủ tục ly hôn thì ngày 13/7/2020 chị S đã sinh một bé trai theo giấy chứng sinh số 2869, quyển số 31, ngày 13/7/2020 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh L. Do bé trai được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ ngày chị S và anh T chấm dứt hôn nhân, theo quy định tại khoản 1 Điều 88 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì bé trai này được coi là con do chị S có thai trong thời kỳ hôn nhân với anh T. Vì vậy, chị Vũ Thị Trường S không làm được thủ tục đăng ký giấy khai sinh cho con được nên chị S làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định bé trai nêu trên là con đẻ của anh Nguyễn Tâm C để chị làm thủ tục khai sinh cho con theo đúng quy định.
Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Tâm C, chị Vũ Thị Trường S và anh Lê Quyết T đều xác định bé trai do chị Vũ Thị Trường S sinh ra ngày 13 tháng 7 năm 2020 không phải là con đẻ của anh T. Đồng thời, tại kết quả xét nghiệm ADN ngày 20/7/2023 của Viện sinh học phân tử L tại Quận T, Thành Phố Hồ Chí Minh đã kết luận bé trai do chị Vũ Thị Trường S sinh ra ngày 13 tháng 7 năm 2020 có quan hệ huyết thống Cha - Con với anh Nguyễn Tâm C có tần suất đạt 99,9999638%. Xét lời khai của các đương sự thống nhất với nhau và phù hợp với kết quả xét nghiệm ADN. Vì vậy, việc chị Vũ Thị Trường S yêu cầu Tòa án xác định bé trai do chị Vũ Thị Trường S, sinh ra ngày 13 tháng 7 năm 2020 là con đẻ của anh Nguyễn Tâm C là có cơ sở để chấp nhận nên căn cứ khoản 1 Điều 89 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Trường S.
[3] Về án phí: Đương sự thuộc trường hợp được miễn tạm ứng án phí, án phí theo quy định nên không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 147; Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 88; khoản 1 Điều 89 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Trường S về việc “Tranh chấp xác định cha cho con”.
- Công nhận anh Nguyễn Tâm C, sinh ngày 12/6/1988; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Hiện đang cư trú: số G, đường N, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng là cha đẻ của bé trai do chị Vũ Thị Trường S, sinh ra ngày 13/7/2020 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh L, theo giấy chứng sinh số 2869, quyển số 31.
- Về án phí: Đương sự thuộc trường hợp được miễn chịu án phí theo quy định.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án (hoặc bản án được niêm yết) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Thị Thúy Ngọc |
Bản án số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG về xác định cha cho con
- Số bản án: 37/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xác định cha cho con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Vũ Trường Sa yêu cầu xác định cha cho con
