TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
1
Bản án số: 37/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26/4/2024
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thiềm Quốc Khanh
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Thanh Tùng
- Ông Phạm Văn Vĩ
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Trương - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Nhu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 317/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Đinh Thị Mỹ L, sinh năm: 1979; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang. (Có mặt).
- - Bị đơn: Ông Phan Văn D, sinh năm: 1970; Địa chỉ: khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 11/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Đinh Thị Mỹ L trình bày:
Sau một thời gian tìm hiểu, giữa bà và ông Phan Văn D tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đông Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Hậu Giang) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 212/2003 ngày 10/11/2003. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng sống với nhau hạnh phúc. Tuy nhiên, sau đó thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Hiện nay, bà và ông D cũng đã sống ly thân với nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà L đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phan Văn D.
2
Về con chung: Trong thời gian chung sống, giữa bà L và ông D có với nhau 03 người con chung tên Phan Thị Thùy D, sinh ngày: 06/3/1999; Phan Thị Mỹ D, sinh ngày: 06/3/1999 và Phan Đinh Ngọc D, sinh ngày: 09/12/2014. Đối với Phan Thị Thùy D, sinh ngày: 06/3/1999 và Phan Thị Mỹ D, sinh ngày: 06/3/1999 đã trưởng thành và có khả năng tự lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn Phan Đinh Ngọc D, sinh ngày: 09/12/2014, sau khi ly hôn thì bà L xin được tiếp tục nuôi con chung Phan Đinh Ngọc D đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông D cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành triệu tập bị đơn Phan Văn D hợp lệ nhiều lần để tham gia hòa giải nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do nên không tiến hành hòa giải giữa các bên đương sự được. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử công khai theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về tố tụng và nội dung giải quyết vụ án. Về tố tụng thì Kiểm sát viên cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật. Còn về nội dung giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Đinh Thị Mỹ L được ly hôn với ông Phan Văn D. Về con chung, Phan Thị Thùy D, sinh ngày: 06/3/1999 và Phan Thị Mỹ D, sinh ngày: 06/3/1999 đã trưởng thành và có khả năng tự lao động nên không đặt ra xem xét giải quyết. Còn con chung Phan Đinh Ngọc D, sinh ngày: 09/12/2014 đề nghị giao cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Ông D không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung thừa nhận không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Giữa bà Đinh Thị Mỹ L và ông Phan Văn D là công dân Việt Nam, có chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã Đông Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Hậu Giang) cấp Giấy chứng nhận kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nay bà L yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông Phan Văn D, cư trú tại khu vực P, phường T, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cái Răng được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án và triệu tập bị đơn Phan Văn D hợp lệ nhiều lần. Tuy nhiên, bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
- [3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
3
- [3.1] Về hôn nhân: Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân phải được xây dựng dựa trên nguyên tắc tự nguyện xuất phát từ tình cảm giữa hai vợ chồng và phải có trách nhiệm chăm sóc, thương yêu, tôn trọng, giúp đỡ nhau để xây dựng gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên, giữa bà L và ông D không xây dựng hạnh phúc gia đình dựa trên nguyên tắc đó mà lại nhiều lần xảy ra mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung. Hiện tại giữa bà L và ông D cũng đã sống ly thân với nhau. Ông D cũng được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để đến Tòa án hòa giải nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Điều đó cho thấy, ông D không còn thiết tha với cuộc hôn nhân này nữa. Cả hai người không còn quan tâm, thương yêu, chăm sóc lẫn nhau nên đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng yêu cầu ly hôn của bà L là có cơ sở chấp nhận.
- [3.2] Về con chung: Giữa bà L và ông D có với nhau 03 người con chung tên Phan Thị Thùy D, sinh ngày: 06/3/1999 và Phan Thị Mỹ D, sinh ngày: 06/3/1999 đã trưởng thành và có khả năng tự lao động nên không đặt ra xem xét giải quyết. Còn con chung Phan Đinh Ngọc D, sinh ngày: 09/12/2014, sau khi ly hôn, bà L xin được tiếp tục nuôi con chung Phan Đinh Ngọc D đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông D cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện tại cháu Ngọc D đang sống ổn định với bà L, được bà L nuôi dưỡng, chăm sóc tốt. Do đó, việc giao cháu Ngọc D cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Do bà L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết
- [3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Thừa nhận không có nên không đặt ra xem xét giải quyết, nếu sau này có phát sinh tranh chấp, sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
- [4] Về án phí: Nguyên đơn Đinh Thị Mỹ L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 150, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 56, Điều 81 và Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Thị Mỹ L được ly hôn với ông Phan Văn D.
4
- Về con chung: Giao cháu Phan Đinh Ngọc D, sinh ngày: 09/12/2014 cho bà Đinh Thị Mỹ L trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ông Phan Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông D, không ai được cản trở ông D thực hiện quyền này.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết, nếu sau này có phát sinh tranh chấp, sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
- Về án phí: Bà Đinh Thị Mỹ L phải chịu 300.000 đồng án phí án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà L đã nộp theo biên lai thu số 0003113 ngày 06/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng thành tiền án phí của bà L. Như vậy, bà L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Thiềm Quốc Khanh |
Bản án số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 37/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình
