Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25 - 7 - 2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung,

Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Tuấn và ông Nguyễn Thanh Bắc

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Thuý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Kiểm sát viên.

Ngày 25/7/2024, tại Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân & gia đình thụ lý số: 228/2022/HNGĐ - ST ngày 22/11/2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, chia tài sản chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST - HN&GĐ, ngày 29/5/2024, giữa:

  1. Nguyên đơn: Ông Vương Văn V, sinh năm 1972;
  2. Nơi cư trú: Xóm K, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  3. Bị đơn: Bà Tống Thị L, sinh năm 1981;
  4. Nơi cư trú: Xóm K, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;
    2. Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Nam T – Chức vụ: Chủ tịch UBND huyện Đ;

      Đại diện theo ủy quyền: Ông Cao Thanh C – Chức vụ: Phó trưởng phòng Tài Nguyên và môi trường huyện Đ. (Văn bản ủy quyền số: 1205 ngày 14 tháng 5 năm 2024).

    3. Bà Vương Thúy H, sinh năm 1954;
    4. Địa chỉ: Xóm A, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

    5. Ông Vương Xuân L1, sinh năm 1956;
    6. Địa chỉ: Xóm K, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

    7. Ông Vương Văn K, sinh năm 1957;
    8. Địa chỉ: Xóm K, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

    9. Ông Vương Văn B, sinh năm 1968;
    10. Địa chỉ: Thành phố B, tỉnh Đắc Lắc.

    11. Ông Vương Văn T1, sinh năm 1970;
    12. Địa chỉ: Xóm G, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

    13. Ông Vương Văn C1, sinh năm 1974; (chết năm 1998);
    14. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông C1:

      • Bà Tạc Thị N, sinh năm 1972; (vợ ông C1);
      • Địa chỉ: Xóm G, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

      • Chị Vương Thị N1, sinh năm 1994; (con ông C1);
      • Địa chỉ: Phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

    15. Ông Vương Văn C2, sinh năm 1963; (chết năm 2017);
    16. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông C2:

      • Bà Trần Thị M, sinh năm 1966 (vợ ông C2);
      • Địa chỉ: Xóm K, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

      • Chị Vương Thúy K1, sinh năm 1984; (con ông C2);
      • Địa chỉ: Xóm K, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

      • Chị Vương Thị N2, sinh năm 1986; (con ông C2);
      • Địa chỉ: Thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

Người được ông L1, ông H, ông V, ông T1, bà M ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Vương Văn K, sinh năm 1957;

Trú tại: Xóm K, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt ông V, bà L và đại diện theo ủy quyền của ông V; vắng mặt người có quyền lợi liên quan đại diện UBND huyện Đ và những người liên quan khác do đều có đơn xin xét xử vắng mặt và từ chối tham gia tố tụng).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn ông Vương Văn V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà L kết hôn năm 2001, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện Đ, được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 07/12/2001 theo quy định. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc hạnh phúc, đến năm 2011 khi đi làm xa nhà, vợ chồng sống xa nhau đến năm 2019 thì ông trở về vợ chồng tiếp tục chung sống. Tuy nhiên ông phát hiện bà L có mối quan hệ khác, ông cũng đã có ý kiến, khuyên nhủ nhưng bà L không thay đổi mà vẫn tiếp tục ngoại tình. Đến tháng 10 năm 2022 thì bà L đi khỏi nhà, ông cũng không biết bà L đi đâu làm gì. Bà L cũng không gọi điện cũng không về thăm nhà. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với chị Tống Thị L.

Về con chung: Vợ chồng tôi có 02 con chung Vương Thanh Ngọc A sinh năm 2002 và Vương Thanh H1 sinh ngày 16/11/2008. Hiện cháu Ngọc A đã trên 18 tuổi đang đi làm và thuê trọ ở riêng nên khi ly hôn ông không có ý kiến gì. Còn cháu H1 đang ở với bố. Khi ly hôn ông có nguyện vọng nuôi con Vương Thanh H1 cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi trừ trường hợp có sự thay đổi khác hay giữa hai vợ chồng có thỏa thuận khác. Ông không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Về tài sản chung của hai vợ chồng ông xác định vợ chồng tôi chỉ có 01 nhà cấp bốn lợp proximăng xây năm 2008 đến năm 2016 thì đổ mái lên tầng 02. Nhà trên một phần đất thuộc thửa đất số 171 tờ bản đồ số 43. Diện tích chính xác là bao nhiêu thì không rõ do trên thửa đất số 171 có một phần đất là đất ở tại nông thôn và một phần đất là đất trồng cây công nghiệp lâu năm. Tài sản chung của vợ chồng tôi chỉ có nhà xây trên đất do vợ chồng tôi cùng có công sức đóng góp xây dựng. Khi ly hôn tôi có nguyện vọng quản lý sử dụng nhà và sẽ trả cho chị L một khoản tiền tương đương với công sức đóng góp của chị L.

Về 04 thửa đất số 171 TBĐ 43 diện tích 1524 m² loại đất ở tại nông thôn và đất trồng cây công nghiệp lâu năm, thửa đất số 303 TBĐ 43 diện tích 793 m² loại đất trồng cây lâu năm khác, thửa đất số 322 TBĐ 43 diện tích 327 m² loại đất trồng cây lâu năm khác, thửa đất số 161 TBĐ 43 diện tích 96 m² loại đất chuyên nuôi trồng thủy sản nước ngọt, cả bốn thửa đất trên đều được cấp GCNQSD đất số AE 109646, AE109643, AE109644 mang tên Vương Văn V và Tống Thị L. Tuy nhiên, ông xác định nguồn gốc đều là của bố mẹ đẻ để lại giao cho anh Vương Xuân L1, sinh năm 1956 để sau này chia cho các em. Năm 2000, anh hai Vương Xuân L1, chị cả Vương Thúy H sinh năm 1954, anh ba Vương Văn K sinh năm 1957, anh tư Vương Văn C2 sinh năm 1963 (đã chết năm 2017), anh năm Vương Văn B sinh năm 1968, anh sáu Vương Văn T1 sinh năm 1970 đã viết cho ông một giấy ủy quyền để tôi đứng tên trên GCNQSD đất. Giấy viết tay, đã được các anh chị tôi cùng ký tên vào giấy, có sự chứng kiến của ông Lê Xuân T2 sinh năm 1953 nguyên là trưởng xóm K, xã P, ông T2 có được ký vào giấy. Bố mẹ khi chết không để lại di chúc mà khi ông kết hôn về vợ chồng ở trên đất do gia đình các anh em giao lại cho quản lý cũng chưa có đơn yêu cầu phân chia di sản thừa kế.

Ông không biết tại sao GCNQSD đất lại mang tên cả hai vợ chồng, vì đây là tài sản có trước khi ông và bà L kết hôn. Ông cũng không được viết đơn yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hai vợ chồng tôi. Ông chỉ nhớ năm 2003 chính quyền địa phương có đến và đo đạc lại, có hướng dẫn ông có được trực tiếp đi chỉ ranh giới đất, tôi không nhớ có được ký vào biên bản hay không. Tôi đề nghị Tòa án có văn bản yêu cầu UBND huyện Đ cung cấp toàn bộ hồ sơ cấp GCNQSD đất số AE 109646, AE109643, AE109644 mang tên Vương Văn V và Tống Thị L làm căn cứ giải quyết vụ án.

Về thửa đất số 173 TBĐ số 43 diện tích 1155 m² loại đất trồng lúa nước đã được cấp GCNQSD đất số AE 109645 mang tên Vương Văn V và Tống Thị L ông xác định nguồn gốc thửa đất là do nhà nước giao đất canh tác cho ông từ năm 1993, lúc đó chưa được cấp GCNQSD đất, đến năm 2003 thì nhà nước mới xuống đo lại và cấp GCNQSD đất cho gia đình ông năm 2006. Ông xác định thửa đất này cũng là tài sản riêng của ông có trước khi kết hôn. Tôi không biết tại sao GCNQSD đất lại mang tên cả hai vợ chồng tôi, tôi cũng không được viết đơn yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hai vợ chồng tôi.

Nay bà L đề nghị chia tài sản ông không nhất trí, Đề nghị Tòa án giải quyết đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận QSD đất do cấp cho vợ chồng không đúng, tạm giao cho ông tiếp tục quản lý . Phần tài sản trên đất tôi đồng ý trích chia chênh lệch bằng tiền cho bà L theo quy định của Hội đồng định giá tài sản đã tiến hành xác định giá trị vào ngày 31/8/2023 gồm:

Giá trị nhà trên đất là 214.178.245đồng

Giá trị cây trồng trên đất là 25.024.500đ.

Tổng giá trị tài sản là: 239.202.745đ (Hai trăm ba mươi chín triệu hai trăm linh hai ngàn bẩy trăm bốn mươi lăm đồng)

Tôi đề nghị được trích trả ½ giá trị cho chị L = 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng) được làm tròn.

Toàn bộ Quyền sử dụng đất xác định là tài sản chung của các anh chị em khi bố mẹ chết không có di chúc và phân chia. Việc kê khai cấp Giấy CNQSDĐ mang tên hai vợ chồng là không đúng nên đề nghị thu hồi Giấy CNQSDĐ trả lại cho gia đình.

Do bà L chung sống cùng ông và có công duy trì tôn tạo khối tài sản của gia đình nên tại phiên tòa ông đồng ý trích trả công sức cho bà L bằng tiền ngoài số tiền trích trả tài sản trên đất là 400.000.000₫ (Bốn trăm triệu đồng). Tổng cộng các khoản ông có trách nhiệm thanh toán cho bà L là: 520.000.000đ (Năm trăm hai mươi triệu đồng).

Các tài sản khác là đồ dùng sinh hoạt: không đề nghị Toà án phân chia.

Về nợ chung, các khoản cho vay chung: Không có.

Tại bản tự khai, biên bản hòa giải, tại phiên tòa bị đơn bà Tống Thị L trình bày:

Bà xác định kết hôn với ông Vương Văn V năm 2001, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện Đ là hoàn toàn đúng, trước khi kết hôn có được tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện và được gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau ngày cưới hai vợ chồng ở riêng. Quá trình chung sống vợ chồng cũng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, cãi nhau và đánh nhau đến mức tôi phải làm đơn lên chính quyền xã để can thiệp. Ông V hay đi uống rượu và về chửi bới đánh đập bà đến mức tôi phải bỏ về bố mẹ đẻ ở khoảng 01 tháng, ông V có lên nói chuyện và đón bà về. Khi về gia đình thì ông. Vụ vẫn không thay đổi. Bố mẹ tôi cũng có khuyên nhủ nhưng không được. Bà xác định không có mối quan hệ nào khác dẫn đến việc vợ chồng phải ly hôn. Hiện tôi đi làm ở Khu công nghiệp Đ, thỉnh thoảng vẫn về nhà, vợ chồng vẫn ăn chung nhưng ít khi nói chuyện với nhau và cũng không quan tâm nhau. Vợ chồng bà cũng đã ngồi nói chuyện để tìm phương án giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quản mà vợ chồng vẫn tiếp tục cãi nhau, không hòa giải được. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ, ông V xin ly hôn bà hoàn toàn nhất trí. Đề nghị được ghi nhận việc thuận tình.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Vương Thanh Ngọc A sinh năm 2002 và Vương Thanh H1 sinh ngày 16/11/2008 như ông V đã trình bày là đúng. Hiện cháu Ngọc A đã trên 18 tuổi đang đi làm và thuê trọ ở riêng nên khi ly hôn bà không có ý kiến gì. Còn cháu H1 đang ở với ông V. Nguyện vọng của cháu H1 cũng muốn ở với bố, Vì vậy, khi ly hôn bà nhất trí để ông V nuôi con Vương Thanh H1, vì bà đang đi làm công nhân phải thuê trọ, cháu H1 cũng có nguyện vọng ở cùng ông V nên bà tôn trọng ý kiến của cháu, đồng ý giao cháu H1 cho bố nuôi dưỡng, ông V không yêu cầu bà cấp dưỡng bà đồng ý.

Về tài sản chung: Bà đồng ý với ý kiến của ông V trình bầy về nguồn gốc tài sản là của bố mẹ chồng cho là đúng, bởi khi bà về làm dâu bố mẹ chồng đã chết. Sau khi kết hôn bà với ông V có cùng canh tác trên đất, cải tạo đất, san lấp ao cộng với mua thêm một phần đất sau đó ông V tự đi kê khai cấp giấy chứng nhận chứ bà không kê khai. Ông V có được kê khai để cấp giấy chứng nhận QSDĐ mang tên hai vợ chồng có nghĩa là đồng ý cho bà cùng đứng tên trên giấy chứng nhận. Bà đề nghị được chia đôi diện tích đất trong giấy chứng nhận giữa bà và ông V, và được nhận phần tài sản trên đất.

Đối với những Giấy chứng nhận QSDĐ mang tên ông V và bà là đúng. Về trình tự cấp giấy chứng nhận do ông V là người làm đơn xin cấp Giấy CNQSDĐ sau đó các cơ quan các thẩm quyền tiến hành đo đạc và cấp giấy chứng nhận năm 2006.

Vợ chồng tôi có bỏ tiền ra mua một phần đất trồng cây của vợ chồng ông Vương Xuân L1 và bà Nguyễn Thị B1 giá trị là 01 chỉ vàng, tôi đưa chỉ vàng cho bà B1 và một phần đất của ông Nguyễn Ngọc T3 là người cùng xóm K, xã P. Khi mua có giấy chuyển nhượng viết tay giữa gia đình tôi và ông Nguyễn Ngọc T3, có trưởng xóm là ông Lê Xuân T2 ký xác nhận. Do vậy, bà xác định toàn bộ đất được cấp giấy chứng nhận là tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Tại phiên tòa ông V đồng ý trích chia cho bà công sức cải tạo đất và tiền giá trị tài sản chung tổng cộng là 520.000.000đ, bà đồng ý, yêu cầu ông V có trách nhiệm trích trả ngay. Bà yêu cầu được lưu cư lại nhà trong thời gian 6 tháng để tạo lập chỗ ở mới.

Các khoản nợ chung, cho vay chung: Không có.

Về khoản tiền chi phí tố tụng: Do bà là người đã tạm ứng để giải quyết vụ án trong quá trình thẩm định, định giá và đo đất nên đề nghị ông V có trách nhiệm hoàn trả vho bà.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bầy:

Tại Biên bản làm việc ngày 29/5/2024, đại diện theo ủy quyền của UBND huyện Đ ông Cao Thanh C – Phó trưởng phòng Tài nguyên & môi trường huyện Đ trình bầy:

  1. Đối với các Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AE 109643, AE 109644 được cấp cùng ngày 15/4/2006 mang tên ông Vương Văn V và bà Tống Thị L, thửa số 171, tờ bản đồ số 43, diện tích 1524m2, trong đó 400m2 đất ở; 1124m2 đất trồng cây công nghiệp lâu năm. Nguồn gốc sử dụng ghi: Nhận QSD đất do tặng cho QSD đất
    • Về trình tự cấp Giấy chứng nhận QSD đất: Giấy chứng nhận QSD đất được cấp lần đầu thuộc trường hợp kê khai để cấp giấy chứng nhận là đúng theo quy định pháp luật.
    • Về thủ tục cấp Giấy chứng nhận QSD đất: Tại hồ sơ cấp Giấy chứng nhận QSD đất chỉ có 01 Đơn xin cấp Giấy chứng nhận QSD đất do người sử dụng đất là ông Vương Văn V kê khai. Thời điểm kê khai cấp Giấy chứng nhận QSD đất năm 2006 với nguồn gốc sử dụng đất là nhận tặng cho QSD đất nhưng không có văn bản, hợp đồng tặng cho QSD đất, cũng không có thủ tục phân chia di sản thừa kế (thời điểm này bố mẹ của ông V đều đã chết trước đó). Do đó, việc cấp Giấy chứng nhận QSD đất cho ông V, bà L với nguồn gốc sử dụng đất là nhận tặng cho QSD đất với hồ sơ như trên là không đảm bảo quy định pháp luật.
  2. Đối với các Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AE 109645, AE 109646 được cấp cùng ngày 15/4/2006 mang tên ông Vương Văn V và bà Tống Thị L, tại thửa số 161, tờ bản đồ số 43, diện tích 96m2, đất chuyên nuôi trồng thủy sản nước ngọt; Nguồn gốc sử dụng ghi: Nhận QSD đất do tặng cho QSD đất 173, tờ bản dồ số 43, diện tích 1155m2, mục đích đất trồng lúa nước. nguồn gốc: Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất; thửa đất số 303, tờ bản đồ 43, diện tích 793m2; thửa đất số 322, tờ bản đồ 43, diện tích 327m2 mục đích sử dụng đất trồng cây hàng năm khác. Nguồn gốc sử dụng: Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất.
    • Về trình tự cấp Giấy chứng nhận QSD đất: Giấy chứng nhận QSD đất được cấp lần đầu là đúng theo quy định pháp luật.
    • Về thủ tục cấp Giấy chứng nhận QSD đất: Tại hồ sơ cấp Giấy chứng nhận QSD đất chỉ có 01 Đơn xin cấp Giấy chứng nhận QSD đất do người sử dụng đất là ông Vương Văn V kê khai, thời điểm kê khai cấp Giấy chứng nhận QSD đất năm 2006 với nguồn gốc sử dụng đất là nhận giao khoán năm 1990 và năm 1991. Theo chính sách của địa phương, diện tích đất nêu trên giao khoán và tiến hành chia định suất cho nhân khẩu trong hộ gia đình với tỷ lệ diện tích được chia tuỳ theo quỹ đất nông nghiệp của từng địa phương. Năm 2001 bà Tống Thị L mới kết hôn với ông Vương Văn V nên không thể có định suất đất nông nghiệp, nguồn gốc đất tại các Giấy chứng nhận QSD đất này là phần định suất đất của các nhân khẩu trong hộ gia đình ông V (thời điểm năm 1990, 1991) còn có các thành viên trong gia đình ông vụ là anh, em ông vụ được chia định suất đất nông nghiệp, nhưng khi cấp giấy chứng nhận QSD đất không có văn bản, hợp đồng hoặc thủ tục phân chia di sản thừa kế tại thời điểm xin cấp Giấy chứng nhận QSD đất (bố mẹ của ông V đều đã chết trước năm 2006). Do đó, việc cấp Giấy chứng nhận QSD đất cho ông V, bà L với hồ sơ như trên là không đảm bảo quy định pháp luật.

Để giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật, phòng Tài nguyên môi trường - UBND huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đề nghị Toà án nhân dân huyện Đại Từ kiến nghị thu hồi những Giấy chứng nhận QSD đất nêu trên. Trường hợp các bên có tranh chấp về di sản thừa kế sẽ được giải quyết theo quy định của Luật thừa kế tại Tòa án có thẩm quyền.

Tại bản tự khai, người có quyền và nghĩa vụ liên ông ông Vương Xuân L1 trình bày:

Gia đình ông có 9 anh, chị em, hiện đã chết 2 còn 7 anh, chị em ruột, bố ông là Vương Thanh B2, sinh năm 1927, chết năm 1981; mẹ và Dư Thị B3, sinh năm 1928, chết năm 1977. Toàn bộ diện tích đất hiện ông V, bà L đang quản lý và sử dụng là do bố mẹ đẻ khai phá, bố mẹ chết không để lại di chúc. Tuy nhiên, năm 2000 anh em ông đã có văn bản họp gia đình thống nhất tạm giao cho ông V là em út trong gia đình quản lý đất của bố mẹ nhưng năm 2006 ông V tự ý kê khai cấp giấy chứng nhận QSD đất của bố mẹ là trái quy định nên anh em ông không đồng ý. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, thu hồi giấy chứng nhận trả lại về cho gia đình.

Ông Vương Văn K trình bầy ý kiến:

Ông không đồng ý với ý kiến của bà L. Khi bà L kết hôn với ông V thì trên đất đã có nhiều tài sản cây cối, hoa màu ở trên đất do bố mẹ đẻ ông xây dựng trên đó còn có cả nhà 05 gian. Đất là của bố mẹ ông khai phá bố mẹ là người Thái Bình lên khai hoang. Sau khi bà L kết hôn với ông V thì ôn Vị và bà L đã phá nhà xây 5 gian của bố mẹ để xây dựng nhà hai tầng, đến năm 2006 tự ý kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông V, bà L mà không được sự đồng ý, không hỏi ý kiến của anh chị em ông.

Ông đề nghị những tài sản của bố mẹ tôi thì buộc ông V bà L trả lại cho anh em toàn bộ đất đã cấp giấy chứng nhận mang tên ông V bà L và khi giải quyết vụ án ly hôn này đối với phẩn tài sản trên đất là nhà tầng của ông V, bà L xác định là tài sản của vợ chồng đã xây dựng trên đất nên chỉ có thể buộc ông V trích trả bằng tiền cho bà L còn đất của bố mẹ anh, chị em ông tự giải quyết. Nếu như có tranh chấp về phần phân chia tài sản thì anh em sẽ tự giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.

Đối với định suất đất nông nghiệp theo tiêu chuẩn là ông B, ông T1, ông V, ông C1 (Ông C1 chết năm 1998) Do anh em không có yêu cầu độc lập trả định suất đất nên đề nghị Tòa án tạm giao toàn bộ tiêu chuẩn đất nông nghiệp có định suất của anh em nêu trên cho ông V quản lý. Anh em chúng tôi tự thống nhất phân chia sau.

Ý kiến trình bầy của những người liên quan khác: Nhất trí ý kiến của ông L1 và ông T1, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Biên bản xem xét thẩm định, định giá ngày 31/8/2023 thể hiện:

Về đất: Cơ sở pháp lý: Đất tại thửa 171, tờ bản đồ số 43, diện tích 1524m2, trong đó 400m2 đất ở; 1124m2 đất trồng cây công nghiệp lâu năm. Nguồn gốc sử dụng ghi: Nhận QSD đất do tặng cho QSD đất. Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AE 109643, AE 109644 được cấp cùng ngày 15/4/2006 mang tên ông Vương Văn V và bà Tống Thị L.

Tài sản trên đất: 01 nhà xây cấp 4, 01 nhà 02 tầng trong đó tầng 1 xây năm 2008 đổ mái tầng 2 lợp tôn xây năm 2016 do ông V, bà L xây dựng; 01 mái tôn trước nhà làm năm 2016; nhà vệ sinh, bếp và công trình phụ; trụ cổng xây năm 2022

Tại thửa số 161, tờ bản đồ số 43, diện tích 96m2, đất chuyên nuôi trồng thủy sản nước ngọt; Nguồn gốc sử dụng ghi: Nhận QSD đất do tặng cho QSD đất 173, tờ bản dồ số 43, diện tích 1155m2, mục đích đất trồng lúa nước. nguồn gốc: Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất; thửa đất số 303, tờ bản đồ 43, diện tích 793m2; thửa đất số 322, tờ bản đồ 43, diện tích 327m2 mục đích sử dụng đất trồng cây hàng năm khác. Nguồn gốc sử dụng: Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất. Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AE 109645, AE 109646 được cấp cùng ngày 15/4/2006 mang tên ông Vương Văn V và bà Tống Thị L.

Tài sản trên thửa đất số 161 là ao do bố mẹ ông vụ đào từ năm 1963.

Trên thửa đất số 303 và 327 cây chè, keo xoan do ông V bà L trồng.

Về giá trị đất ở: 320.000đ/m2; đất trồng cây công nghiệp cùng thửa đất ở 160.000đ/m²; đất nông nghiệp có giá 64.000đ/m²; đất trồng cây hàng năm khác 55.000đ/m²; đất nuôi trồng thủy sản 46.000đ/m2.

Giá trị nhà công trình xây dựng: 214.178.245đ; cây cối trên đất: 25.024.500₫.

Tổng giá trị các tài sản: 239.202.745₫ (Hai trăm ba mươi chín triệu hai trăm linh hai ngàn bẩy trăm bốn mươi lăm đồng).

Phần tranh tụng:

Ý kiến ông V: Ông Vụ xác định đất có nguồn gốc của bố mẹ, việc kê khai cấp giấy chứng nhận là không đúng; tài sản trên đất ông đề nghị phân chia theo quy định, ông nhất trí có trách nhiệm trích cho bà L giá trị tài sản trên đất do vợ chồng tạo lập cho bà L là 120.000.000đ; về công sức quản lý tài sản ông V nhất trí trích trả cho bà L 400.000.000đ, tổng cộng hai khoản là 520.000.000₫.

Ý kiến bà L: Nhất trí phần trích chia tài sản do ông V trích trả, yêu cầu tríc trả ngay làm 1 lần.

Người liên quan: Không tranh luận gì thêm

Kết thúc tranh luận: Các bên đương sự không đưa ra quan điểm đối đáp, tranh luận gì thêm.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Đại Từ phát biểu ý kiến:

  1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
    • Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 26, 35, 39 BLTTDS về thẩm quyền thụ lý; Điều 68 về xác định tư cách tham gia tố tụng; Điều 96, 97 BLTTDS về xác minh, thu thập, giao nhận chứng cứ; Điều 195, 196 BLTTDS về việc thụ lý, giao nhận thông báo thụ lý vụ án cho đương sự và Viện kiểm sát; Điều 203 về thời hạn chuẩn bị xét xử; Điều 205, 208, 209, 210, 211 BLTTDS về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
    • Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
  2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
  3. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

    • Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Vương Văn V với bà Tống Thị L
    2. Về con chung:
    3. Con chung thứ nhất đã trưởng thành nên không đặt ra việc giải quyết.

      Giao con chung thứ hai cháu Vương Thanh H1, sinh ngày 16/11/2008, cho ông Vương Văn V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung cho đến khi ung trưởng thành (đủ 18 tuổi) có khả năng lao động hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác về người nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật;

      Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với bà L (do ông V không yêu cầu).

      Bà L có quyền thăm và chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích của các con, khi cần thiết các bên có thể yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

    4. Về tài sản chung: Công nhận sự thỏa thuận
      • Giao ông V được quyền sở hữu, sử dụng 01 nhà xây 02 tầng, diện tích 87,4m2, và toàn bộ công trình xây dựng bếp, chuồng trại chăn nuôi, công trình kiến thiết khác, cây trồng trên thửa đất số 171, tờ bản đồ số 43; Toàn bộ tài sản khác là cây trồng gồm chè, keo, xoan trên các thửa đất số 327, 303 cùng tờ bản đồ 43; thửa đất số 161, tờ bản đồ 43. Trị giá: 239.202.745₫ (Hai trăm ba mươi chín triệu hai trăm linh hai ngàn bẩy trăm bốn mươi lăm đồng).
      • Ông Vương Văn V có trách nhiệm trích chia tài sản cho bà Tống Thị L số tiền: 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng);

        Ghi nhận sự tự nguyện ông Vương Văn V trích trả công sức cho bà L trong thời gian làm dâu số tiền 400.000.000đ. Tổng cộng ông V trích trả hai khoản cho bà L là 520.000.000đ (năm trăm hai mươi triệu đồng).

      • Bà Tống Thị L được sở hữu, sử dụng số tiền 520.000.000đ (Năm trăm hai mươi triệu đồng) do ông V trích trả và được quyền lưu cư tại nhà của ông V trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
      • Đối với các giấy chứng nhận QSD đất mang tên ông V, bà L: Kiến nghị UBND huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thu hồi các giấy chứng nhận QSD đất cấp đối với các thửa: Thửa đất số 171, tờ bản đồ số 43, diện tích 1524m², trong đó 400m² đất ở; 1124m² đất trồng cây công nghiệp lâu năm. Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AE 109643, AE 109644 được cấp ngày 15/4/2006 mang tên ông Vương Văn V và bà Tống Thị L. Thửa số 161, tờ bản đồ số 43, diện tích 96m², đất chuyên nuôi trồng thủy sản nước ngọt; Thửa số 173, tờ bản đồ số 43, diện tích 1155m², mục đích đất trồng lúa nước; Thửa đất số 303, tờ bản đồ 43, diện tích 793m²; thửa đất số 322, tờ bản đồ 43, diện tích 327m² mục đích sử dụng đất trồng cây hàng năm khác. Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AE 109645, AE 109646 được cấp cùng ngày 15/4/2006 mang tên ông Vương Văn V và bà Tống Thị L.
      • Ông V có trách nhiệm giao giấy chứng nhận cho CQNN có thẩm quyền để thu hồi theo quy định.
      • Giành quyền khởi kiện cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của người liên quan trong vụ kiện dân sự khác về tranh chấp thừa kế đối với các thửa đất nêu trên theo quy định của pháp luật.
    5. Về nợ chung, các khoản cho vay chung: Không có.
    6. Về chi phí thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Ông V, bà L cùng phải chịu chi phí thẩm định tại chỗ, đo đất và định giá tài sản: Đã nộp và chi phí xong.
  4. Về án phí: Ông V phải chịu 300.000đ án phí ly hôn và án phí về tài sản được hưởng Bà L phải chịu án phí tài sản được hưởng theo quy định.
  5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định.

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở kết quả tranh luận tại phiên tòa. Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm chấp hành pháp luật tố tụng và quan điểm về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn ông Vương Văn V khởi kiện xin ly hôn và đề nghị giải quyết quyền nuôi con chung, chia tài sản chung với bị đơn bà Tống Thị L, cả hai có đăng ký hộ khẩu và nơi cư trú tại xóm K, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự, xác định đây là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

[2]. Về thủ tục tố tụng:

[2.1]. Về thủ tục hoà giải: Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, tuy nhiên do các đương sự không thoả thuận về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án, căn cứ Điều 220 Bộ luật tố tụng Dân sự, quyết định đưa vụ án ra xét xử.

[2.2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Những người có quyền lợi nghãi vụ liên quan (Đại diện theo ủy quyền của UBND huyện Đ - ông Cao Thanh C) có đơn xin xét xử vắng mặt. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của người liên quan vắng mặt và từ chối tham gia tố tụng, những người liên quan đã có văn bản và trình bầy quan điểm xin được vắng mặt tại phiên toà sơ thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điểm b Khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng trong vụ án và giành quyền kháng cáo cho những người liên quan vắng mặt tại phiên toà theo quy định của pháp luật.

[2.3]. Về sự ủy quyền của đương sự: Nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có lập văn ủy quyền cho ông Vương Văn K là đại diện tham gia tố tụng tại Tòa án (văn bản ủy quyền được lập chứng thực của UBND xã P). Việc ủy quyền của đương sự phù hợp theo quy định tại Điều 85, Điều 87 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận.

[2.4]. Về bổ sung yêu cầu khởi kiện:

Trong quá trình tố tụng, ông V có đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu khởi kiện đề nghị xem xét về tài sản là QSD đất, đề nghị thu hồi giấy chứng nhận QSD đất cấp mang tên ông V, bà L. Xét việc bổ sung không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 5 và Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận nội dung bổ sung yêu cầu khởi kiện để giải quyết trong cùng vụ án.

[2.5]. Về sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự nên Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3]. Về nội dung:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của ông V với bà L, Hội đồng xét xử thấy: Ông Vương Văn V và bà Tống Thị L kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và được cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 1999, nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu mâu thuẫn về cả kinh tế và tình cảm, ông V cho rằng bà L có mối quan hệ ngoài luồng với người đàn ông khác thậm chí đưa cả về gia đình khi ông V vắng nhà; còn bà L cho rằng mâu thuẫn vợ chồng chủ yếu do ông V bạo lực, làm ăn không lo toan cho gia đình, thường xuyên say rượu lại chửu bới. Vợ chồng ly thân từ nhiều năm nay, cũng từ năm 2022 bà L bỏ đi khỏi gia đình, vợ chồng ly thân không ai quan tâm đến ai.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, cả ông V và bà L xác định mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cả hai xác định không thể đoàn tụ gia đình nên đồng ý thuận tình ly hôn.

Xét thấy việc thỏa thuận thuận tình ly hôn của ông V với bà L tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện nên cần thiết ghi nhận việc thuận tình ly hôn này của đôi bên.

[3.2]. Về con chung: Quá trình chung sống cả ông V, bà L đều công nhận có 02 con chung: Vương Thanh Ngọc A sinh năm 2002 và Vương Thanh H1 sinh ngày 16/11/2008.

Hiện con chung thứ nhất Vương Ngọc A đã trưởng thành nên không đặt ra việc giải quyết người trực tiếp nuôi dưỡng.

Về con chung thứ hai: cháu Vương Thanh H1, sinh ngày 16/11/2008, hiện đang ở ổn định với ông V do ông V nuôi dưỡng.

Tại phiên tòa cả ông V, bà L thống nhất giao cháu H1 cho ông V trực tiếp nuôi dưỡng để tạo điều kiện cho cháu ổn định học tập. Tại bản tự khai cháu H1 cũng có nguyện vọng được ở với bố. Xét việc thỏa thuận người trực tiếp nuôi dưỡng con chung của ông V, bà L cũng phù hợp với nguyện vọng của con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận giao cháu H1 cho ông V tiếp tục tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi) có khả năng lao động hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác về người nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Ông V không yêu cầu bà L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với bà L cho đến khi có yêu cầu hoặc đến khi có thay đổi việc cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

[3.3].Về tài sản chung:

Trong quá trình giải quyết vụ án bà Tống Thị L có yêu cầu phân chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và xuất trình chứng cứ gồm: Thửa đất số 171, tờ bản đồ số 43, diện tích 1524m², trong đó 400m² đất ở; 1124m² đất trồng cây công nghiệp lâu năm. Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AE 109643, AE 109644 được cấp ngày 15/4/2006 mang tên ông Vương Văn V và bà Tống Thị L.

Thửa số 161, tờ bản đồ số 43, diện tích 96m2, đất chuyên nuôi trồng thủy sản nước ngọt;

Thửa số 173, tờ bản đồ số 43, diện tích 1155m2, mục đích đất trồng lúa nước;

Thửa đất số 303, tờ bản đồ 43, diện tích 793m2; thửa đất số 322, tờ bản đồ 43, diện tích 327m2 mục đích sử dụng đất trồng cây hàng năm khác.

Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AE 109645, AE 109646 được cấp cùng ngày 15/4/2006 mang tên ông Vương Văn V và bà Tống Thị L.

[3.3.1]. Bà L cho rằng toàn bộ đất và tài sản trên đất là tài sản chung của vợ chồng nên đề nghị phân chia bằng hiện vật là QSD đất.

Ông V xác định toàn bộ đất ở, đất vườn, đất nông nghiệp, đất nuôi trồng thủy san là của bố mẹ đẻ ông V để lại, bố mẹ chưa cho con nào, bố chết năm 1977, mẹ chết năm 1981 không để lại chúc thừa kế, khi ông lập gia đình đã cùng bà L quản lý và sử dụng. Trước khi kết hôn với bà L các anh, chị em đã có văn bản thỏa thuận tạm giao cho ông quản lý tài sản của bố mẹ, giấy ủy quyền được toàn thể anh em ký tháng 5/2000, thời hạn tạm giao là 30 năm. Dao vậy, đất không phải là tài sản chung của vợ chồng nhưng bà L cũng có công cải tạo và gìn giữ khối tài sản này cho gia đình ông.

[3.3.2]. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vương Thúy H, ông Vương Văn K, ông Vương Văn B, ông Vương Văn T1, ông Vương Xuân L1 khẳng định các thửa đất hiện ông V, bà L được cấp giấy chứng nhận QSD đất là không đúng, bởi đất là tài sản của bố mẹ, các anh, chị em trong gia đình chỉ tạm giao cho ông V là con trai út quản lý, trong đó còn một số thửa đất nông nghiệp là tiêu chuẩn và định suất do Nhà nước phân chia có ông C1 (đã chết năm 1998); ông B, ông T1 và ông V được chia định suất nhưng do các anh em ở cùng với bố mẹ nên bố mẹ quản lý cả phần định suất của người được chia. Do đó, anh em không nhất trí yêu cầu phân chia đất của bà L. Đề nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận cấp cho ông V và bà L.

Như vậy, giữa ông V, bà L và nhưng người liên quan trong gia đình ông V hiện đang có sự tranh chấp về việc xác định tài sản chung của chị ông V, bà L tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân.

[3.3.3]. Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Toà án thực hiện ngày 31/8/2023, xác định đất được cấp giấy chứng nhận QSD đất tại thửa đất số Thửa đất số 171, tờ bản đồ số 43, diện tích 1524m², trong đó 400m² đất ở; 1124m² đất trồng cây công nghiệp lâu năm. Tài sản trên đất gồm: Nhà xây 2 tầng trong đó tầng 1 xây năm 2008 đổ mái tầng 2 lợp tôn xây năm 2016 do ông V, bà L xây dựng; 01 mái tôn trước nhà làm năm 2016; nhà vệ sinh, bếp và công trình phụ; trụ cổng xây năm 2022.

Trên các thửa đất nông nghiệp và đất canh tác có cây chè, keo lấy gỗ

[3.3.4].Trong quá trình giải quyết vụ án do các bên đương sự có tranh chấp về việc xác định tài sản chung, Tòa án đã ban hành Quyết định cung cấp chứng cứ đối với UBND huyện Đ, yêu cầu cung cấp hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSD đất đã cấp mang tên oogn Vương Văn V, bà Tống Thị L, kết quả được cung cấp thông tại Biên bản làm việc với Phòng tài nguyên & môi trường huyện Đ như sau:

Đối với thửa đất ở số 171, tờ bản đồ số 43, vị trí đất thuộc xóm K, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên:

  • Về trình tự cấp Giấy chứng nhận QSD đất: Giấy chứng nhận QSD đất được cấp lần đầu thuộc trường hợp kê khai để cấp giấy chứng nhận là đúng theo quy định pháp luật.
  • Về thủ tục cấp Giấy chứng nhận QSD đất: Tại hồ sơ cấp Giấy chứng nhận QSD đất chỉ có 01 Đơn xin cấp Giấy chứng nhận QSD đất do người sử dụng đất là ông Vương Văn V kê khai. Thời điểm kê khai cấp Giấy chứng nhận QSD đất năm 2006 với nguồn gốc sử dụng đất là nhận tặng cho QSD đất nhưng không có văn bản, hợp đồng tặng cho QSD đất, cũng không có thủ tục phân chia di sản thừa kế (thời điểm này bố mẹ của ông V đều đã chết trước đó). Do đó, việc cấp Giấy chứng nhận QSD đất cho ông V, bà L với nguồn gốc sử dụng đất là nhận tặng cho QSD đất với hồ sơ như trên là không đảm bảo quy định pháp luật.

Tại thửa số 161, tờ bản đồ số 43, diện tích 96m2, đất chuyên nuôi trồng thủy sản nước ngọt; Nguồn gốc sử dụng ghi: Nhận QSD đất do tặng cho QSD đất 173, tờ bản dồ số 43, diện tích 1155m2, mục đích đất trồng lúa nước. nguồn gốc: Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất; thửa đất số 303, tờ bản đồ 43, diện tích 793m2; thửa đất số 322, tờ bản đồ 43, diện tích 327m2 mục đích sử dụng đất trồng cây hàng năm khác. Nguồn gốc sử dụng: Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất.

  • Về trình tự cấp Giấy chứng nhận QSD đất: Giấy chứng nhận QSD đất được cấp lần đầu là đúng theo quy định pháp luật.

Về thủ tục cấp Giấy chứng nhận QSD đất: Tại hồ sơ cấp Giấy chứng nhận QSD đất chỉ có 01 Đơn xin cấp Giấy chứng nhận QSD đất do người sử dụng đất là ông Vương Văn V kê khai, thời điểm kê khai cấp Giấy chứng nhận QSD đất năm 2006 với nguồn gốc sử dụng đất là nhận giao khoán năm 1990 và năm 1991. Theo chính sách của địa phương, diện tích đất nêu trên giao khoán và tiến hành chia định suất cho nhân khẩu trong hộ gia đình với tỷ lệ diện tích được chia tuỳ theo quỹ đất nông nghiệp của từng địa phương. Năm 2001 bà Tống Thị L mới kết hôn với ông Vương Văn V nên không thể có định suất đất nông nghiệp, nguồn gốc đất tại các Giấy chứng nhận QSD đất này là phần định suất đất của các nhân khẩu trong hộ gia đình ông V (thời điểm năm 1990, 1991) còn có các thành viên trong gia đình ông vụ là anh, em ông vụ được chia định suất đất nông nghiệp, nhưng khi cấp giấy chứng nhận QSD đất không có văn bản, hợp đồng hoặc thủ tục phân chia di sản thừa kế tại thời điểm xin cấp Giấy chứng nhận QSD đất (bố mẹ của ông V đều đã chết trước năm 2006). Do đó, việc cấp Giấy chứng nhận QSD đất cho ông V, bà L với hồ sơ như trên là không đảm bảo quy định pháp luật.

[3.3.5]. Tại Biên bản xác minh giữa Tòa án với UBND xã P được cung cấp thông tin:

Về tiêu chuẩn đất nông nghiệp của xóm K, xã P theo quy định của Hội đồng Bộ trưởng về chia định suất đất nông nghiệp thực hiện từ năm 1993, theo đó hộ gia đình ông V có 4 người được chia định suất ông C1, ông B, ông T1 và ông V, mỗi định suất được chia 1,2 sào = 408m2 ngoài ra mỗi định suất được chia thêm 5 thước đát 1 lúa =120m2. Như vậy định suất đất của người lớn là 528m2; người chưa trưởng thành được chia 1 sào = 360m², không được chia thêm đất lúa. Do đó, giấy chứng nhận QSD đất được cấp mang tên ông, bà L tại thửa 173, tờ bản đồ 43, thửa 327, 303 cùng tờ bản đồ 43 không phải là tài sản chung của ông V, bà L mà là tiêu chuẩn đất của các thành viên trong gia đình ông V. Bà L sinh năm 1981 ở xóm khác nên không có tiêu chuẩn đất nông nghiệp.

[4]. Từ những căn cứ nêu trên, xác định Toàn bộ đất được cấp giấy chứng nhận QSD mang tên ông Vương Văn V, Tống Thị L không phải là tài sản chung của ông V, bà L trong thời kỳ hôn nhân. Xác định đất có nguồn gốc của bố mẹ ông V, do bố mẹ chết không để lại di chúc nên thuộc tài sản của anh, chị em ông V. Các anh, chị em ông V thống nhất đề nghị tạm giao co ông V quản lý và sử dụng. Việc tranh chấp tài sản anh em tự giải quyết.

Đối với các tài sản trên đất: nhà ở, công trình xây dựng, chuồng trại chăn nuôi cũng như cây trồng trên đất cả ông V, bà L đều thừa nhận của cả hai tạo lập được kể từ khi bà L kết hôn với ông V, các anh, chị em của ông V cũng không phản đối điều này. Do vậy, xác định toàn bộ công trình trên đất là tài sản chung của ông V và bà L tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân.

Tại điều 33 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “ Tài sản chung vợ chồng gồm tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao đông....... trong thời kỳ hôn nhân, Tài sản do vợ chồng được thừa kế, tặng cho chung ”,

Tại khoản 3 Điều 33 quy định: “Trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung của vợ chồng”.

Theo đó, Tổng giá trị các tài sản trên đất được định giá là: 239.202.745₫ (Hai trăm ba mươi chín triệu hai trăm linh hai ngàn bẩy trăm bốn mươi lăm đồng).

Do tài sản được hình thành trên đất là tài sản chung của anh, chị em ông V nên không thể phân chia bằng hiện vật. Tại phiên tòa ông K là đại diện theo ủy quyền cho các anh, chị em đồng ý tạm giao đất cho ông V sử dụng. Do vậy, cần buộc ông V có nghĩa vụ trích trả chênh lệch về tài sản cho bà L ½ giá trị tài sản chung, cụ thể: 239.202.745đ : 2 = 119.600.000₫ làm tròn 120.000.000₫.

Cũng tại phiên tòa, ông V nhất trí tự nguyện trích trả công sức làm dâu cho bà L số tiền 400.000.000₫.

Hội đồng xét thấy đây là ý trí tự nguyện của nguyên đơn nên chấp nhận và ghi nhận sự thỏa thuận tự nguyện này. Như vậy, ngoài số tiền ông V trích trả chênh lệch tài sản bà L còn được hưởng thêm 150.000.000đ tiền công sức làm dâu do ông V trả. Tổng số tiền ông V trích trả cho bà L là 520.000.000đ. bà L được hưởng số tiền 520.000.000đ do ông V trích trả.

[5]. Các khoản nợ chung, cho vay chung: không có

[6] Xét đơn khởi kiện bổ sung của ông V đề nghị thu hồi các giấy chứng nhận QSD đất cấp mang tên ông V, bà L.

Hội đồng xét xử thấy rằng: theo quy định tại Điều 5 BLTTDS 2015 thì “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự... và, trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, họ có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình, nhưng việc thay đổi, bổ sung yêu cầu đó, trong mọi trường hợp, không được vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu”.

Tại khoản 1 Điều 218 BLTTDS: "Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự, nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu".

Xét đơn khởi kiện bổ sung này có căn cứ như đã phân tích nêu trên nên được chấp nhận. Do đó, kiến nghị UBND huyện Đ thu hồi các giấy chứng nhận QSD đất cấp mang tên ông V, bà L tại các thửa đất:

Thửa đất số 171, tờ bản đồ số 43, diện tích 1524m², trong đó 400m² đất ở; 1124m² đất trồng cây công nghiệp lâu năm. Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AE 109643, AE 109644 được cấp ngày 15/4/2006 mang tên ông Vương Văn V và bà Tống Thị L.

Thửa số 161, tờ bản đồ số 43, diện tích 96m2, đất chuyên nuôi trồng thủy sản nước ngọt;

Thửa số 173, tờ bản đồ số 43, diện tích 1155m2, mục đích đất trồng lúa nước;

Thửa đất số 303, tờ bản đồ 43, diện tích 793m2; thửa đất số 322, tờ bản đồ 43, diện tích 327m2 mục đích sử dụng đất trồng cây hàng năm khác.

Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AE 109645, AE 109646 được cấp cùng ngày 15/4/2006 mang tên ông Vương Văn V và bà Tống Thị L.

Giành quyền khởi kiện cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người kế thừa quyền và nghãi vụ tố tụng của người liên quan trong vụ kiện dân sự khác về tranh chấp thừa kế theo quy định của pháp luật.

[8]. Về chi phí thẩm định, định giá tài sản: Ông V, bà L cùng phải chịu chi phí thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: 15.000.000đ. trong đó tiền đo đất hết 11.000.000đ. Do vậy, buộc ông V phải chịu chi phí nhiều hơn bà L, cụ thể bà L phải chịu 4.000.000đ; ông V phải chịu 11.000.000đ. bà L đã nộp tạm ứng và chi phí xong, buộc ông V có trách nhiệm thanh toán trả bà L 11.000.000đ (mười một triệu đồng).

[9]. Về án phí: Ông V phải chịu 300.000đ án phí ly hôn và án phí về tài sản được hưởng (119.000.000₫ x 5%), theo đó án phí phải chịu là 5.950.000đ, Tổng cộng hai khoản án phí là 6.250.000đ. Ông V được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) tại biên lai thu số 0004110 ngày 22/11/2022 và số tiền tạm ứng 2.500.000đ, tại Biên lai thu số 0002612 ngày 08/8/2023, của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ. Ông V còn phải nộp tiếp 3.450.000đ.

Bà L phải chịu (520.000.000đ ) = 24.800.000đ án phí tài sản được hưởng, bà L được đối trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.000.000đ, tại Biên lai thu số 0002626 ngày 22/8/2023, bà Lcòn phải nộp tiếp 19.800.000 (mười chín triệu tám tăm ngàn đồng).

[10]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 218, Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;

- Điều 33, 55, 59, 81, 82, 83, 84 và 131, Luật Hôn nhân & gia đình năm 2014;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn, đề nghị nuôi con chung, chia tài sản chung của ông Vương Văn V với bà Tống Thị L.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Vương Văn V với bà Tống Thị L.
  2. Về con chung:
  3. Con chung thứ nhất đã trưởng thành nên không đặt ra việc giải quyết.

    Giao con chung thứ hai cháu cháu Vương Thanh H1 sinh ngày 16/11/2008, cho ông Vương Văn V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung cho đến khi ung trưởng thành (đủ 18 tuổi) có khả năng lao động hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác về người nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật;

    Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với bà L (do ông V không yêu cầu). Bà L có quyền thăm và chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích của các con, khi cần thiết các bên có thể yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

  4. Về tài sản chung:
    1. Giao ông V được quyền sở hữu, sử dụng 01 nhà xây 02 tầng, diện tích 87,4m², và toàn bộ công trình xây dựng bếp, chuồng trại chăn nuôi, công trình kiến thiết khác, cây trồng trên thửa đất số 171, tờ bản đồ số 43; Toàn bộ tài sản khác là cây trồng gồm chè, keo, xoan trên các thửa đất số 327, thửa 303 cùng tờ bản đồ 43; thửa đất số 161, tờ bản đồ 43. Trị giá: 239.202.745₫ (Hai trăm ba mưoi chín triệu hai trăm linh hai ngàn bẩy trăm bốn mươi lăm đồng).
    2. Ghi nhận Ông Vương Văn V có trách nhiệm trích chia tài sản cho bà Tống Thị L số tiền: 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng);

      Ghi nhận sự tự nguyện ông Vương Văn V có nghãi vụ trích trả công duy trì, tôn tạo tài sản cho bà L trong thời gian làm dâu số tiền 400.000.000₫ (Bốn trăm triệu đồng). Tổng cộng ông V trích trả hai khoản cho bà L là 520.000.000đ (năm trăm hai mươi triệu đồng).

    3. Bà Tống Thị L được sở hữu, sử dụng số tiền 520.000.000đ (Năm trăm hai mươi triệu đồng) do ông V trích trả và được quyền lưu cư tại nhà ở giao cho ông V được quyền sử dụng trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
    4. Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, mà người phải thi hành án không thanh toán các khoản tiền trên thì còn phải chịu lãi xuất chậm trả tại thời điểm thanh toán theo quy định tại điều 357 và 468 của Bộ luật dân sự.

    5. Kiến nghị UBND huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thu hồi các giấy chứng nhận QSD đất cấp đối với các thửa:
    6. Thửa đất số 171, tờ bản đồ số 43, diện tích 1524m², trong đó 400m² đất ở; 1124m² đất trồng cây công nghiệp lâu năm. Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AE 109643, AE 109644 được cấp ngày 15/4/2006 mang tên ông Vương Văn V và bà Tống Thị L.

      Thửa số 161, tờ bản đồ số 43, diện tích 96m², đất chuyên nuôi trồng thủy sản nước ngọt;

      Thửa số 173, tờ bản đồ số 43, diện tích 1155m², mục đích đất trồng lúa nước;

      Thửa đất số 303, tờ bản đồ 43, diện tích 793m²; thửa đất số 322, tờ bản đồ 43, diện tích 327m² mục đích sử dụng đất trồng cây hàng năm khác.

      Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AE 109645, AE 109646 được cấp cùng ngày 15/4/2006 mang tên ông Vương Văn V và bà Tống Thị L.

    7. Tạm giao cho ông Vương Văn V sử dụng các thửa đất gồm: Thửa đất số 171, tờ bản đồ số 43, diện tích 1524m², trong đó 400m² đất ở; 1124m² đất trồng cây công nghiệp lâu năm; Thửa số 161, tờ bản đồ số 43, diện tích 96m², đất chuyên nuôi trồng thủy sản nước ngọt; Thửa số 173, tờ bản đồ số 43, diện tích 1155m², mục đích đất trồng lúa nước; Thửa đất số 303, tờ bản đồ 43, diện tích 793m²; thửa đất số 322, tờ bản đồ 43, diện tích 327m² mục đích sử dụng đất trồng cây hàng năm.
    8. Ông V có trách nhiệm giao các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho CQNN có thẩm quyền để thu hồi theo quy định.

      Giành quyền khởi kiện cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của người liên quan trong vụ kiện dân sự khác về tranh chấp tài sản đối với các thửa đất nêu trên theo quy định của pháp luật.

  5. Về nợ chung, các khoản cho vay chung: Không có.
  6. Về chi phí thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Bà L phải chịu 4.000.000đ; ông V phải chịu 11.000.000đ. Bà L đã nộp tạm ứng 15.000.000₫ và chi phí xong, buộc ông V có trách nhiệm thanh toán trả bà L 11.000.000đ (mười một triệu đồng).
  7. Về án phí: Ông V phải chịu 300.000đ án phí ly hôn và án phí về tài sản được 5.950.000đ, Tổng cộng hai khoản án phí là 6.250.000đ. Ông V được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) tại biên lai thu số 0004110 ngày 22/11/2022 và số tiền tạm ứng 2.500.000đ, tại Biên lai thu số 0002612 ngày 08/8/2023, của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ. Ông V còn phải nộp tiếp 3.450.000đ (ba triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng).
  8. Bà L phải chịu 24.800.000đ án phí tài sản được hưởng, bà L được đối trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.000.000đ, tại Biên lai thu số 0002626 ngày 22/8/2023, bà L còn phải nộp tiếp 19.800.000 (mười chín triệu tám tăm ngàn đồng).

  9. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhân

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ
  • - Chi cục THADS huyện Đại Từ;
  • - UBND huyện Đại Từ;
  • - UBND xã Phục Linh, huyện Đại Từ (ĐKKH số 34, quyển số 01 ngày 07/12/2001);
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

  • Số bản án: 37/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn do mâu thuẫn. Chấp nhận yêu cầu cho ly hôn, chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger