|
TAND HUYỆN VĂN BÀN TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2024/HS-ST Ngày 24/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI.
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Triệu Vĩnh Thái.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Bách Khanh.
2. Bà Vũ Thị Hồng Hải.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Thư ký toà án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn tham gia phiên toà: Bà Nông Thị Mới - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Hoàng Văn H, sinh ngày 01/8/1994, tại huyện V, tỉnh Lào Cai.
Nơi cư trú: Thôn É, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai.
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12.
Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông: Hoàng Văn S, sinh năm 1972; con bà: Lự Thị T, sinh năm 1972 (đã chết).
Vợ: Lương Thị L, sinh năm 1995; Bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2016, hiện trú tại xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2024 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện V - Có mặt tại phiên tòa.
-
Lương Văn D, sinh ngày 15/5/2003, tại huyện V, tỉnh Lào Cai.
Nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai.
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 6/12.
Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông: Lương Văn L1, sinh năm 1974; con bà Lương Thị K, sinh năm 1974. Hiện trú tại xã xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai.
Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: 01 tiền án, Bản án số: 73/HSST ngày 14/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Lương Văn D 01 năm 02 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 01/12/2023.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2024 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện V - Có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Ông Trần Đình H1, sinh năm 1952. Nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai – Vắng mặt.
Người chứng kiến: 1/ Ông Hà Văn T1, sinh năm 1970. Nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt. 1/ Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1962. Nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên Tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 30 phút ngày 11/4/2024, tổ công tác của công an huyện V và công an xã V đang tuần tra kiểm soát trên địa bàn thôn É, xã V, huyện V thì phát hiện Hoàng Văn H đang đứng ven đường có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật nên tiến hành kiểm tra. Khi được yêu cầu, Hoàng Văn H khai nhận bản thân đang cất giấu ma túy và tự giác lấy từ túi quần bên phải phía trước đang mặc ra 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột khô màu trắng, vón cục giao nộp và khai là gói ma túy của H tàng trữ để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định. Tiến hành khám xét chỗ ở của Hoàng Văn H tại thôn É, xã V, huyện V không phát hiện thu giữ gì.
Về nguồn gốc ma túy Hoàng Văn H khai: Khoảng 17 giờ ngày 10/4/2024, Hoàng Văn H gặp Lương Văn D - sinh năm 2003, trú tại thôn C, xã V, huyện V đang đi bộ ở đường liên thôn thuộc thôn X, xã V, huyện V. H hỏi số tiền 200.000 đồng Dồng còn nợ mình, D nói có 300.000 đồng. Biết D cũng nghiện nên có thể mua được ma túy, H bảo D đi mua ma túy cho H, số tiền mua ma túy sẽ trừ vào tiền nợ, D đồng ý. H đưa thêm cho D 100.000 đồng để trả tiền công, D cầm tiền H đưa rồi một mình đi mua ma túy. Khoảng 30 phút sau D quay lại đưa cho H 01 gói ma túy gói bằng giấy bạc màu trắng, H cầm lấy gói ma túy D đưa và đi về. Khi về đến nhà, H lấy gói ma túy ra, chia tách lấy một ít ma túy để sử dụng, số ma túy còn lại H gói lại, cất giấu trong túi quần bên phải, đến ngày 11/4/2024 thì bị bắt quả tang.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lương Văn D tại thôn C, xã V, huyện V. Quá trình khám xét Dồng tự giác lấy từ túi quần phía trước bên phải đang mặc ra 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột khô, màu trắng vón cục và 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong là lớp nilon màu trắng, chứa chất bột khô màu trắng, vón cục giao nộp cho công an.
Lương Văn D khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 10/4/2024, D gặp Hoàng Văn H tại đường liên thôn thuộc thôn X, xã V, huyện V. Trước đó D có nợ H số tiền 200.000 đồng nên H hỏi, D nói có 300.000 đồng. H bảo D dùng số tiền nợ đi mua ma túy cho H sử dụng. Do bản thân cũng đang muốn mua ma túy về để sử dụng nên D đồng ý. H đưa cho D 100.000 đồng tiền công đi mua ma túy, D cầm tiền H đưa và đi đến nhà Trần Đình H1 ở thôn P, xã P, huyện B mua được 01 gói ma túy giá 400.000 đồng. Trên đường về đến đoạn đường liên thôn thuộc thôn X, xã V (cách vị trí H1 đứng đợi khoảng 40m) thì dừng lại, chia tách gói ma túy mua được ra thành 02 gói, gói lại bằng giấy bạc màu trắng rồi về vị trí Hoàng Văn H đang đợi, đưa cho H 01 gói ma túy, còn lại 01 gói Dồng cầm về chia tách thành 02 gói nhỏ, mục đích để sử dụng. Đến khoảng 15 giờ ngày 11/4/2024 thì công an đến nhà khám xét, D tự giác giao nộp 02 gói ma túy cho công an.
Tiến hành khám xét chỗ ở của T thôn P, xã P, huyện B không phát hiện thu giữ gì. Trần Đình H1 không thừa nhận đã bán ma túy cho Lương Văn D.
Kết luận giám định số 158/GĐMT ngày 17/4/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh L kết luận: 0,342 gam chất chất bột khô màu trắng vón cục thu giữ của Hoàng Văn H; 0,087 gam chất chất bột khô màu trắng vón cục thu giữ của Lương Văn D gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.
*Tại bản Cáo trạng số: 37/CT-VKS ngày 20/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, quyết định truy tố các bị cáo Hoàng Văn H, Lương Văn D ra trước Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn H, Lương Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy.”
* Về hình phạt:
- - Hình phạt chính: + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H từ 01 năm 02 tháng tù đến 01 năm 05 tháng tù.
- + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lương Văn D từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù.
- - Hình phạt bổ sung: Không.
- * Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: - 0,254 gam Heroine còn lại sau giám định; 01 mảnh giấy bạc mầu trắng thu giữ của bị cáo Hoàng Văn H và bì niêm phong ban đầu. - 0,040 gam Heroine còn lại sau giám định, 02 mảnh giấy bạc mầu trắng, 01 mảnh nilon mầu trắng thu giữ của bị cáo Lương Văn D và bì niêm phong ban đầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi các bị cáo bị truy tố, tại phiên tòa các bị cáo khai nhận:
Khoảng 17 giờ ngày 10/4/2024, bị cáo Lương Văn D gặp bị cáo Hoàng Văn H tại đường liên thôn thuộc thôn X, xã V, huyện V. Trước đó do bị cáo D có nợ bị cáo H số tiền 200.000đ nên H hỏi, D nói có 300.000đ. H bảo D dùng số tiền nợ đi mua ma túy cho H sử dụng. Do bản thân cũng đang muốn mua ma túy về để sử dụng nên D đồng ý. H đưa cho D 100.000đ tiền công đi mua ma túy, D cầm tiền H đưa và đi đến nhà Trần Đình H1 mua 01 gói Heroine với giá 400.000 đồng. Trên đường về đến đoạn đường liên thôn thuộc thôn X, xã V (cách vị trí H1 đứng đợi khoảng 40m) thì dừng lại, chia tách gói Heroine mua được ra thành 02 gói, gói lại bằng giấy bạc màu trắng rồi về vị trí Hoàng Văn H đang đợi, đưa cho H 01 gói Heroine, còn lại 01 gói Heroine Dồng cầm về chia tách thành 02 gói nhỏ, mục đích để sử dụng. H cầm lấy gói ma túy D đưa và đi về. Khi về đến nhà, H lấy gói ma túy ra, chia tách lấy một ít ma túy để sử dụng, số ma túy còn lại có khối lượng 0,342 gam H gói lại, cất giấu trong túi quần bên phải, đến 12 giờ 30 phút ngày 11/4/2024 thì bị bắt quả tang, cơ quan Công an thu giữ toàn bộ số Heroine của H. Đến khoảng 15 giờ ngày 11/4/2024 cơ quan Công an khám xét khẩn cấp nhà của Lương Văn D, bị cáo D tự giác giao nộp 02 gói Heroine có khối lượng 0,087 gam cho công an.
Như vậy, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Hoàng Văn H, Lương Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
Đây là vụ án có đồng phạm giản đơn, bị cáo Hoàng Văn H là người khởi xướng, bỏ tiền mua và tàng trữ 0,342 gam Heroine để bản thân sử dụng, do vậy bị cáo Hoàng Văn H giữ vai trò chính là người thực hành. Bị cáo Lương Văn D là người trực tiếp thực hiện hành vi mua cho mình và mua hộ 0,429 gam Heroine nên phải chịu trách nhiệm với vai trò là người thực hành.
[3] Hội đồng đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy. Các bị cáo hiểu rõ ma túy là loại độc dược nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Là người khỏe mạnh nhưng các bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân dẫn đến nghiện ma túy và cùng nhau góp tiền mua ma túy để sử dụng. Nên xét cần có một hình phạt thật nghiêm khắc để cải tạo giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Hoàng Văn H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự. Bị cáo Lương Văn D tại bản án số: 73/HS-ST ngày 14/12/2022 đã bị Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt 01 năm 02 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 01/12/2023 chưa được xóa án tích như vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo trong quá trình điều tra truy tố và xét xử, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo là người nghiện ma túy, sống bằng nghề tự do, không có tài sản gì có giá trị nên giảm nhẹ một phần hình phạt tù và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
[6] Về vật chứng:
- - Khối lượng Heroine thu giữ của Hoàng Văn H là 0,342gam, cơ quan điều tra gửi giám định, cơ quan giám định lưu mẫu 0,088gam còn lại 0,254 gam Heroine; 01 mảnh giấy bạc mầu trắng và bì niêm phong ban đầu cần tịch thu tiêu hủy.
- - Khối lượng Heroine thu giữ của Lương Văn D là 0,087gam, cơ quan điều tra gửi giám định, cơ quan giám định lưu mẫu 0,047gam còn lại 0,040 gam Heroine; 02 mảnh giấy bạc mầu trắng, 01 mảnh nilon mầu trắng và bì niêm phong ban đầu cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo pháp luật.
[8] Về các tình tiết khác của vụ án: Đối với Trần Đình H1, cơ quan điều tra đã tiến hành các hoạt động điều tra, đối chất nhưng Trần Đình H1 không thừa nhận bán ma túy cho Lương Văn D, ngoài lời khai của Lương Văn D không còn chứng cứ nào khác để chứng minh nên không có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn H, Lương Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 11/4/2024 ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lương Văn D 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 11/4/2024 ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo.
- * Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 0,254 gam Heroine; 01 mảnh giấy bạc mầu trắng thu giữ của bị cáo Hoàng Văn H và bì niêm phong ban đầu được đựng trong 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn; 0,040 gam Heroine; 02 mảnh giấy bạc mầu trắng, 01 mảnh nilon mầu trắng thu giữ của bị cáo Lương Văn D và bì niêm phong ban đầu được đựng trong 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn.
- (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Bàn ngày 20/6/2024.)
- * Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Hoàng Văn H, Lương Văn D mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6, điều 7, điều 7a, 7b, 7c và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Triệu Vĩnh Thái |
Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 37/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Văn H - D
