TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:37/2024/HS-ST Ngày 24-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC – TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Sang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Cường; Ông Vũ Đức Lâm.
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thụy Cầm - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ tên: Phạm Văn H, sinh ngày 27/10/1993 tại xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn S, sinh năm 1970 và bà Trịnh Thị T, sinh năm 1971; Gia đình có hai người con, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Chưa có vợ con; Tiền sự, tiền án: không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/3/2024 đến nay.
Có mặt tại phiên tòa.
Người tham gia tố tụng khác:
- * Đại diện hợp pháp của bị hại:
- Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1958 (vắng mặt)
- Trú tại: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Chị Trịnh Thị T, sinh năm 1971 (có mặt)
- Trú tại: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- - Anh Phạm Văn P, sinh năm 1986 (vắng mặt)
- Trú tại: Tiểu Khu P, thị trấn V, huyện T, Thanh Hóa.
- * Người làm chứng:
- - Cháu Phạm Diệp N, sinh năm 2014 (vắng mặt)
- Người đại diện của cháu N: Chị Hoàng Thị H1, sinh năm 1990 (vắng mặt)
- Cùng địa chỉ: Tiểu Khu P, thị trấn V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- - Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1992 (vắng mặt)
- Trú tại: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- - Anh Phạm Văn L1, sinh năm 1990 (vắng mặt)
- Trú tại: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- - Chị Hoàng Thị Đ1, sinh năm 1973 (vắng mặt)
- Trú tại: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- - Anh Phạm Văn Q, sinh năm 1994 (vắng mặt)
- Trú tại: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 11/02/2024, Phạm Văn H (có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] do Sở Giao thông Vận tải tỉnh T cấp ngày 06/5/2016) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vision, biển kiểm soát 36F1 - 436.27 đi trên đường nội thôn từ nhà anh Nguyễn Văn L (sinh năm: 1992, trú tại thôn B, xã T, huyện H) về nhà mình ở cùng thôn B, xã T, huyện H. Khi H điều khiển xe mô tô đi đến phía trước nhà anh Phạm Văn C (sinh năm: 1985, trú tại thôn B, xã T, huyện H), thì phía trước là anh Phạm Văn C1 (sinh năm: 1989, trú tại thôn B, xã T, huyện H) đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36Y1 - 3612 chở cháu Phạm Diệp N (sinh năm: 2014, trú tại tiểu khu P, thị trấn V, huyện T) ngồi sau đang đi theo hướng ngược chiều với H (hướng Bắc - Nam). Lúc này, H điều khiển xe mô tô đi giữa đường (hướng N - B), với tốc độ khoảng 40 đến 50 km/h (theo lời khai của H), do H lấn sang phần đường bên trái theo hướng đi của mình, thiếu chú ý quan sát và không làm chủ tốc độ nên khi phát hiện thấy xe mô tô của anh C1 điều khiển đi chậm bên phải (tính theo chiều đi của anh C1) đến, H không kịp xử lý tay lái, đã đâm va vào xe của anh C1 điều khiển, đẩy xe mô tô của anh C1 lùi về phía sau làm cho xe mô tô và H bị đổ nghiêng trên mặt đường bị thương tích nhẹ, còn xe mô tô của anh C1 bị đổ nghiêng bên phải (theo hướng đi của anh C1) tựa vào bờ tường, anh C1 bị thương tích nặng và cháu N bị ngã nằm trên mặt đường. Sau đó, anh Phạm Văn C1 và cháu Phạm Diệp N được đưa đến cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Đa khoa huyện H. Đến khoảng 09 giờ 50 phút ngày 12/02/2024, anh Phạm Văn C1 đã chết tại nhà riêng.
Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, kết quả như sau:
- * Kết quả khám nghiệm hiện trường như sau:
- Hiện trường được xác định là đoạn đường nội thôn thuộc thôn B, xã T, huyện H. Đoạn đường được làm bằng bê tông bằng phẳng, rộng 1m85, đoạn đường không có vạch kẻ sơn phân chia thành các làn đường riêng biệt, lề đường phía đông rộng 62 cm, lề đường phía tây rộng 30 cm. Đoạn đường xảy ra tai nạn là đường trong ngõ xóm, đường nhỏ, sát lề đường là cổng nhà dân, đoạn đường không bị khuất tầm nhìn, không có biển báo.
- Thống nhất lấy cột cổng phía nam nhà bà Hoàng Thị k làm điểm mốc, lấy mép lề đường phía Tây làm chuẩn để đo các vị trị.
Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết: (01) là vết cà xước trên mặt đường, có kích thước (7 x 1) cm, vết có dạng hình thẳng theo chiều N1 - B, đo đầu (01) và cuối (01) vào mép lề đường phía Tây lần lượt là 01m10 và 01m80. (02) là vết cà xước trên mặt đường có kích thước (13x1,5) cm vết có dạng hình thẳng theo chiều N1 - Bắc, đo đầu vết (02) và cuối vết (02) vào mép lề đường phía Tây lần lượt là 01m và 98cm. Cách cuối vết (02) 67cm về phía Bắc là tâm vết (03). (03) là đám hỗn hợp màu đỏ nghi máu dạng tia bắn trên mặt đường, vết không rõ hình, có kích thước (38 x 35) cm, đo tâm vết (03) vào mép lề đường phía Tây là 62 cm
Tại bản kết luận giám định số 806/KLGĐTT-PC09 ngày 29/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Nguyên nhân chết của anh Phạm Văn C1 là Đa chấn thương.
Tại bản kết luận giám định số 136/180-181/24/KLGDĐC-PYQG ngày 21/02/2024 của V, kết luận: Trong máu của Phạm Văn H không tìm thấy cồn và các chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 137/182-183/24/KLGDĐC-PYQG ngày 22/02/2024 của V, kết luận: Trong máu của anh Phạm Văn C1 không tìm thấy cồn và các chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 921/KL-KTHS ngày 07/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:
- + Va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 36Y1 - 3612 với xe mô tô biển kiểm soát 36F1- 436.27:
- + Điểm va chạm đầu tiên: Mặt trước trên ngoài đầu bên trái trục trước xe mô tô biển kiểm soát 36Y1 - 3612 với bên trái mặt lăn lốp trước, tương ứng hàng số “80/90-16” xe mô tô biển kiểm soát 36F1 - 436.27.
- + Tại thời điểm va chạm, hai phương tiện có hướng ngược chiều nhau.
- + Vị trí va chạm nằm trước đầu vết cà xước (1) được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, trên phần đường bên phải theo chiều từ Nam ra B.
- + Không đủ cơ sở xác định, tại thời điểm va chạm vận tốc của phương tiện nào lớn hơn.
- - Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 36F1 - 436.27 với anh Phạm Văn C1 .
Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Vision, biển kiểm soát 36F1 - 436.27 là tài sản của bà Trịnh Thị T (sinh năm: 1971, trú tại thôn B, xã T, huyện H, là mẹ đẻ của bị can Phạm Văn H), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho chủ sở hữu.
Đối với chiếc xe mô tô tô biển kiểm soát 36Y1 - 3612 là tài sản của anh Phạm Văn P (sinh năm: 1986, trú tại tiểu khu P, thị trấn V, huyện T, là anh trai của anh Phạm Văn C1), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho chủ sở hữu.
Đối với đoạn video thu giữ nhà anh Phạm Văn C (sinh năm: 1985, trú tại thôn B, xã T, huyện H) có liên quan đến vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H chuyển theo hồ sơ vụ án.
Đối với giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] mang tên anh Phạm Văn C1 do Sở Giao thông Vận tải thành phố H cấp ngày 28/11/2014, quá trình điều tra xác minh xác định là giấy phép lái xe mô tô giả. Tuy nhiên, anh Phạm Văn C1 đã chết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H chuyển giấy phép lái xe này theo hồ sơ vụ án.
Quá trình điều tra, xác định Phạm Văn H đã được Sở Giao thông Vận tải tỉnh T cấp giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] ngày 06/5/2016 nhưng quá trình bị tai nạn đã bị mất nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, Phạm Văn H đã bồi thường cho gia đình anh Phạm Văn C1 số tiền 270.000.000 đồng (hai trăm bảy mươi triệu đồng), gia đình anh C1 không yêu cầu gì thêm và đã tự nguyện làm đơn xin miễn, giảm trách nhiệm hình sự cho Phạm Văn H .
Bản cáo trạng số 39/CT-VKSHL ngày 02/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc đã truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS.
Nghiên cứu hồ sơ vụ án, xét thấy lời khai của Phạm Văn H và những người làm chứng đều khai nhận trước thời điểm sảy ra vụ tai nạn, H có sử dụng bia. Tuy nhiên theo kết luận giám định xác định về nồng độ cồn trong máu thì H không có.
Xem xét về thời gian xảy ra vụ tai nạn đến khi lấy mẫu máu để xét nghiệm xác định nồng độ cồn đối với H sau thời gian dài (gần 12 giờ) dẫn đến kết luận giám định không phản ánh được việc H đã sử dụng bia, là căn cứ áp dụng khung hình phạt tăng nặng đối với Phạm Văn H.
Do mâu thuẫn giữa lời khai của bị cáo, người làm chứng (có sử dụng bia) và kết luận giám định (không có nồng độ cồn trong máu). Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc đã có công văn đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc/ Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc phúc đáp nguyên nhân, lý do chậm thực hiện việc lấy mẫu xét nghiệm đồng thời chỉ rõ những mâu thuẫn này cũng như trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng.
Phúc đáp yêu cầu của Tòa án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H xác định nguyên nhân không lấy được máu xét nghiệm nồng độ cồn vì lý do khách quan. Do những người liên quan đến vụ tai nạn đã được đưa đi cấp cứu tại các cơ sở y tế, do không liên hệ được với người thân nên đến sáng ngày 12/02/2024 Công an xã mới xác định được cơ sở y tế đang điều trị cho những người bị tại nạn, do vậy mới báo cáo cho lực lượng Công an huyện để thực hiện biện pháp điều tra. Sau đó mới thực hiện việc lấy máu xét nghiệm nồng độ cồn đối với Phạm Văn H và kết luận giám định không thấy nồng độ cồn trong máu. Do vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo Cáo trạng đã truy tố bị cáo theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa phát biểu ý kiến: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh như cáo trạng và xác định sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; đại diện gia đình bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy, đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của BLHS, xử phạt bị cáo Phạm Văn H 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) đến 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của gia đình bị hại, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tự thỏa thuận, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí theo quy định.
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.
Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo xin HĐXX xem xét mức hình phạt nhẹ nhất cho bị cáo và đề nghị xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo Phạm Văn H tại phiên tòa khai nhận phù hợp với lời khai tại Cơ qua điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 11/02/2024, Phạm Văn H (có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36F1 - 436.27 đi trên đường nội thôn B, xã T, huyện H để về nhà. Khi H điều khiển xe mô tô đi đến phía trước nhà anh Phạm Văn C (ở cùng thôn), do lấn sang phần đường trái theo hướng đi của mình, thiếu chú ý quan sát và không làm chủ tốc độ nên xe ô tô của Phạm Văn H đã đâm va vào xe mô tô biển kiểm soát 36Y1 - 3612 của anh Phạm Văn C1 đang điều khiển chở cháu Phạm Diệp N (sinh năm: 2014) ngồi sau đi theo hướng ngược lại, làm anh Phạm Văn C1 bị thương nặng và chết tại nhà riêng.
Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 23 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 17 Luật giao thông đường bộ và khoản 5, khoản 8 Điều 5 thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G, đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của BLHS.
Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, tại phiên tòa và lời khai của những người làm chứng khai nhận trước khi gây tai nạn H có sử dụng bia. Tuy nhiên căn cứ vào kết luận giám định xác định H không có nồng độ cồn trong máu nên Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo Phạm Văn H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng nên cần buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự và phải chịu một hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo trong việc chấp hành pháp luật, cũng như để phòng ngừa chung.
[4] Tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Tự nguyện khắc phục bồi thường; đại diện gia đình bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Vì vậy cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét bị cáo có nơi cư trú ổn định, nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; bản thân bị cáo có khả năng tự cải tạo và không gây ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Do đó xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà căn cứ Điều 65 BLHS và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho bị cáo hưởng án treo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian nhất định cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã tự thỏa thuận không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, xÐt thÊy kh«ng ¶nh hưởng ®Õn viÖc gi¶i quyÕt vô ¸n nên C¬ quan c¶nh s¸t ®iÒu tra C«ng an H2 đã xử lý vật chứng trả lại cho các chủ sở hữu là phù hợp.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- * Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
- * Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của BLHS.
- * Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra.
- * Về án phí: Bị cáo Phạm Văn H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- * Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết nơi cư trú.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Văn Sang |
Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC – TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 37/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC – TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ
