Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ÂN THI

TỈNH HƯNG YÊN

Bản án số: 37/2024/HSST

Ngày 24 tháng 6 năm 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI - TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá H

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang C

Ông Nguyễn Viết T

Thư ký phiên toà: Ông Dương Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị H – Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở xã Tiền Phong, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 38/2024/HSST ngày 29/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HS ngày 10/6/2024 đối với bị cáo:

Đào Đức L, sinh ngày: 19/11/1971. Giới tính: Nam.

Nơi sinh và nơi cư trú: thôn Đ X, t t L B, huyện K Đ, tỉnh HY

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ: Không. Trình độ học vấn: 5/10.

Bố đẻ: Đào Đức Chính (Đã chết). Mẹ đẻ: Đào Thị Mười, sinh năm 1948.

Gia đình bị cáo có 06 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Vợ: Trần Thị Yến, sinh năm 1976.

Bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2000.

Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 31/3/2024, chuyển tạm giam từ ngày 06/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Ân Thi. Có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

Anh Đỗ Xuân T, sinh năm 1969 (vắng mặt)

Anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1971 (vắng mặt)

Đều trú tại: Đan Tràng, Hồng Vân, Ân Thi, Hưng Yên

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện chất ma tuý nên khoảng 14 giờ 00 phút ngày 31/3/2024, Đào Đức L đi nhờ xe của một người không quen biết đến khu vực thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương tìm mua ma tuý để sử dụng. Tại đây, L thấy một người đàn ông không biết tên, địa chỉ, nhìn giống người nghiện nên đã đến gần hỏi “Có ma tuý Heroin không để cho 200.000 đồng” thì người này đồng ý. L đưa cho người này 01 tờ tiền Polime mệnh giá 200.000 đồng, người này cầm tiền và đưa cho L 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, in chữ màu đen bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột. L biết là ma tuý nên cầm gói ma tuý cất giấu vào túi quần phía trước bên trái đang mặc. L tiếp tục đi nhờ được xe của một người không quen biết đến khu vực xã Hồng Vân, huyện Ân Thi rồi đi bộ để về nhà mình. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi L đang đi trên đường 376 (cũ) thuộc địa phận thôn Đan Tràng, xã Hồng Vân thì bị Công an huyện Ân Thi và Công an xã Hồng Vân đang tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn thấy L có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện tại túi quần phía trước bên trái L đang mặc 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ in chữ màu đen, bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột, L khai nhận là ma tuý đã mua để sử dụng. Công an huyện Ân Thi tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ của L 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ in chữ màu đen, có kích thước (03 x 1,5) cm bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột, được niêm phong trong bì thư ký hiệu (I). Tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với L, kết quả xét nghiệm: Dương tính.

Tại Kết luận giám định số 300/KL- KTHS (MT) ngày 03/4/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu (I), có khối lượng là 0,154g (Không phẩy một năm bốn gam) là ma tuý, loại Heroine (Heroin). Hoàn lại sau giám định trong một niêm phong ghi số 300/KL- KTHS (MT) gồm: 0,151g (Không phẩy một năm một gam) là ma tuý, loại Heroine (Heroin); 01 mảnh giấy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

Quá trình điều tra, bị cáo Đào Đức L đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai nhận của bị cáo phù hợp khách quan với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 0,151g (Không phẩy một năm một gam) Heroine (Heroin), 01 mảnh giấy và 01 vỏ phong bì được hoàn lại sau giám định hiện quản lý tại kho vật chứng của Công an huyện Ân Thi.

Đối với người bán ma tuý cho bị cáo L, nhưng do bị cáo khai không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ sẽ xử lý sau.

Cáo trạng số 40 ngày 29 tháng 05 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Đào Đức L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Đề nghị HĐXX tuyên xử bị cáo Đào Đức L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự

Xử phạt bị cáo Đào Đức L từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày 31/3/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS. Tịch thu, cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi hoàn mẫu vật gửi giám định số 300/KL-KTHS (MT) của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hưng Yên bên trng chứa: 0,151g ma túy, loại Heroine; 01 mảnh giấy gói ma túy; 01 vỏ niêm bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, rất ăn năn hối hận đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để cải tạo, giáo dục sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

{1}Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và các cơ quan tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Cơ quan điều tra công an huyện Ân Thi; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

{2} Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Đào Đức L đã thành khẩn khai nhận hành vi của mình như Cáo trạng số 40 ngày 29/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Ân Thi thu thập được như biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 51-53), bản tự khai/bản tường trình (BL 72-73), biên bản ghi lời khai ( từ BL 64-71), lời khai của người làm chứng (BL 56 -63), kết luận giám định (BL 20), đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 31/3/2024, tại đoạn đường 376 (cũ) thuộc địa phận thôn Đan Tràng, xã Hồng Vân, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên bị cáo đã hành vi cất giấu trái phép trên người một gói giấy màu trắng nghi là chất ma túy, tại kết luận giám định số 300/KL- KTHS (MT) ngày 03/4/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong thu giữ của bị cáo có khối

lượng 0,154g là ma túy, loại Heroine. Do vậy có đủ sơ sở kết luận Cáo trạng số 40/CT- VKSAT ngày 29/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi và quan điểm kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo Đào Đức L về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.

{3}Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý một số mặt hàng cấm, bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng các chất ma tuý nói chung và Heroine nói riêng là mặt hàng Nhà nước cấm mua bán lưu thông trên thị trường. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy nhưng bị cáo coi thường pháp luật đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhằm thoả mãn nhu cầu của bản thân. Hiện nay tệ nạn ma tuý đang là hiểm họa của toàn xã hội, gây tác hại rất lớn đến sức khoẻ, huỷ hoại phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình và cũng là mầm mống, nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy cần phải đưa bị cáo ra xét xử một cách kịp thời, nghiêm minh, có hình phạt thỏa đáng nhằm mục đích trừng trị, giáo dục người phạm tội đồng thời góp phần vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm chung.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Đào Đức L phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt ngoài việc đánh giá tính chất mức độ của hành vi phạm tội, HĐXX còn cân nhắc xem xét đến các tình tiết tăng nặng. giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Tại phiên tòa vợ bị cáo là chị Đào Thị Yến, sinh năm 1976 địa chỉ: Động Xá, Lương Bằng, Kim Động, Hưng Yên cung cấp đơn xin giảm án phạt, bằng khen của ông Đào Đức Chính là bố đẻ của bị cáo được Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên tặng bằng khen vì có thành tích tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

{4} Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, tuy nhiên hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, do vậy cần thiết phải áp dụng một hình phạt nghiêm đối với bị cáo, cần bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

{5} Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

{6} Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong ghi hoàn mẫu vật gửi giám định số 300/KL-KTHS (MT) của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hưng Yên bên trong chứa: 0,151g ma túy, loại Heroine; 01 mảnh giấy gói ma túy; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

(có đặc điểm được thể hiện tại biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, chứng cứ ngày 31/5/2024).

{7} Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Đào Đức L phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Đào Đức L 01 (một) năm tù, thời gian tính từ ngày 31/3/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Tịch thu, cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi hoàn mẫu vật gửi giám định số 300/KL-KTHS (MT) của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hưng Yên bên trng chứa: 0,151g ma túy, loại Heroine; 01 mảnh giấy gói ma túy; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

(có đặc điểm được thể hiện tại biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, chứng cứ ngày 31/5/2024).

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhân:

  • - VKSND huyện và VKSND tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện;
  • - Chi cục THADS huyện Ân Thi;
  • - Lưu HS;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phạm Bá Hân

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HSST ngày 24/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI - TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 37/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI - TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger