|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2024/HS-ST Ngày 24 tháng 5 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thanh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Hoàng và ông Nguyễn Lâm
Tới
- - Thư ký phiên tòa: Ông Châu Kim Sol – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên tham gia phiên tòa: Ông Chau Rết - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Chau Sa O, sinh năm 1989; Giới tính: Nam; nơi sinh: Tịnh Biên, An Giang; trú tại: Tổ A, ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Khmer; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chau N và bà Neàng Đ; con có 03 người, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Chau Sa O: Ông Trần Phước T – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A; địa chỉ: số H đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; (có mặt).
- Bị hại: Danh C, sinh năm 1981; trú tại: Ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang. (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Srây P, sinh năm 1967; trú tại: Ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang; (có mặt).
Người làm chứng: Bà Nèang T1, bà Say N1 và bà Nèang P1 (cùng có mặt);
- Người phiên dịch: Ông Lục Tà D – Phiên dịch viên (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 30/7/2024, Danh C lấy cuốc đắp bờ hồ nuôi cá phía sau nhà thuộc ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang, thì bà Srây P (mẹ vợ của C và O) trong nhà đi ra chửi. Bà P và C cự cãi với nhau, rồi bà P dùng tay đánh nhiều cái trúng vào mặt của C; Cùng lúc này, Chau Sa O (con rễ của bà P là anh em bạn rễ của C) đang ngủ trong nhà nghe tiếng bà P với C cự cãi với nhau lớn tiếng, nên Chau Sa O cầm 01 cây dao tự chế dài 28 cm chạy ra, khi đến nơi thấy bà P và C đánh nhau, C thì cầm cuốc đánh bà P, nên Chau Sa O đứng đối diện với C rồi dùng dao chém C trúng vào cán cuốc trượt trúng 01 cái vào vùng đầu của C, C dùng cây cuốc đánh trả lại O, trong lúc O và C đang giằng co đánh nhau thì O dùng cây dao chém 01 cái trúng vào đầu ngón III của bàn tay phải và trúng vào vùng dương vật của C gây thương tích, thì được mọi người can ngăn, nên O cầm dao bỏ vào nhà. Riêng, C thì được đưa đến Trung tâm Y tế thị xã T điều trị. Đến ngày 07/8/2023, C xuất viện và có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Chau Sa O; O không yêu cầu giám định thương tích và xử lý hình sự đối với Danh C.
Qua sự việc trên, Danh C yêu cầu xử lý hình sự đối với O và yêu cầu O bồi thường số tiền 43.016.000 đồng chi phí điều trị, mất thu nhập và tổn thất tinh thần.
Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 691/23/KLTTCT-TTPY ngày 09/10/2023, của Trung tâm pháp y tỉnh A, kết luận thương tích đối với Danh C do vật sắc gây nên có tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể 06%.
Ngày 13/12/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với Chau Sa O về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, sổ sung năm 2017.
Ngày 11/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên truy tố bị cáo Chau Sa O về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, sổ sung năm 2017, theo Cáo trạng số 38/CT-VKSTB-HS ngày 11/4/2024.
Tại phiên tòa,
Bị cáo Chau Sa O khai nhận như nội dung cáo trạng đã truy tố; Trong phần tranh luận, sau khi nghe nội dung luận tội và đề nghị mức hình phạt của Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến tranh luận về tội danh và khung hình phạt mà cáo trạng đã truy tố; bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vì hiện nay bị cáo sống bằng nghề leo chặt Thốt nốt lấy trái và nước, nuôi 03 con, vợ và mẹ vợ (bà P); bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 8.000.000 đồng.
Bị hại Danh C khai nhận như nội dung cáo trạng đã truy tố, khi trời mưa, bị hại cầm cuốn đi đắp bờ hồ nuôi cá, bà P trong nhà đi ra chửi và đánh anh vì cho rằng là của bà, bà P và anh đánh nhau, thì bị cáo trong nhà cầm dao đi ra chém anh gây thương tích như nội dung cáo trạng đã truy tố; Bị hại yêu cầu Hội đồng xét xử, xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật; bị hại đồng ý nhận mức bồi thường thiệt hại về sức khỏe và C1 là 8.000.000 đồng theo ý kiến của bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Srây P khai nhận như nội dung cáo trạng đã truy tố, bà xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo, vì hiện nay gia đình chỉ có một mình bị cáo làm kiếm tiền nuôi sống gia đình và bà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên thực hành công tố tại phiên tòa, sau khi xét hỏi, tranh luận, xem xét tính chất vụ án, mức độ, hậu quả từ hành vi phạm tội của bị cáo tác động đến xã hội, phân tích các tình tiết định tội, định khung hình phạt, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu luận tội giữ nguyên quyết định Cáo trạng truy tố và đề nghị:
- - Hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Chau Sa O phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Đề nghị xử phạt bị cáo Chau Sa O từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.
- - Trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX áp dụng 48 BLHS các Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật dân sự công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại, buộc bị cáo bồi thường 8.000.000 đồng cho anh D1 C.
- - Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao chiều dài 28cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại; 01 cây cuốc chiều dài 1,2 m, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại.
Người bào chữa cho bị cáo đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và mức hình phạt đề nghị áp dụng; Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, học vấn thấp, lỗi một phần là của bị hại, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, lần đầu phạm tội, thuộc tội ít nghiêm trọng, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt; đồng thời gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo đang nuôi 03 con nhỏ và mẹ vợ là bà P, tại phiên tòa bị cáo cũng đồng ý bồi thường cho bị hại; Nên đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an nhân dân thị xã T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[1.2] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội là hoàn toàn phù hợp lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về toàn bộ diễn biến về thời gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội, các tình tiết khác của vụ án; phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh, sơ đồ hiện trường được lập trong giai đoạn điều tra; Ngoài ra, còn phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ. Đã đủ căn cứ xác định, bị cáo và bị hại là anh em bạn rể, bị cáo nghe thấy bị hại đang cự cãi và đánh nhau với mẹ vợ (bà P) nên bị cáo cầm dao đến đứng đối diện với bị hại rồi chém bị hại trúng vào cây cuốc trượt trúng 01 cái trúng vào vùng đầu của bị hại, lúc này bị hại có dùng cây cuốc đánh trả lại trúng vào đầu của bị cáo, bị cáo và bị hại tiếp giằng co đánh nhau, trong lúc giằng co, bị cáo có dùng dao chém trúng vào đầu ngón III bàn tay phải và trúng vào vùng dương vật của bị hại gây thương tích với tổng tỷ lệ cơ thể 06%.
[2.2] Sức khỏe của con người là vốn quý giá của xã hội, được mọi người tôn trọng và pháp luật bảo vệ; mọi hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật đều là hành vi nguy hiểm cho xã hội và sẽ bị xử lý kịp thời, nghiêm minh bằng pháp luật.
Bị cáo là người trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng cố ý thực hiện với ý thức mong muốn và mặc cho hậu quả xảy ra, thấy bị hại cự cải giằng co đánh nhau với mẹ vợ (bà P), nên bị cáo dùng dao chém bị hại gây thương tích.
Khi thực hiện hành vi, bị cáo không mong muốn tước đoạt tính mạng của bị hại, mang tính tự phát, nhưng bị cáo biết rõ cây dao bằng kim loại dài khoảng 28cm là một loại hung khí nguy hiểm, nếu sử dụng để chém vào cơ thể người khác có thể gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nhưng bị cáo cố ý thực hiện; hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người khác;
Với phân tích trên, Hội đồng xét xử xác định: hành vi của bị cáo Chau Sa O đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, tội phạm có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù 06 tháng đến 03 năm tù.
Nên, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên truy tố bị cáo về tội danh, điểm, khoản, điều luật viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[2.3] Tuy nhiên, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Khi bị khởi tố, điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn, hối cải đối với hành vi, vi phạm pháp luật của bản thân, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, sống bằng nghề chặt trái và lấy nước Thốt Nốt bán, vợ bị cáo trông con nhỏ, hiện tại bị cáo đang có trách nhiệm nuôi 03 con, đứa lớn sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2021 và nuôi cả mẹ vợ là bà P, tại phiên tòa bị cáo đã xin lỗi bị hại; đồng thời bị cáo có nhân thân tốt, lý lịch rõ ràng, có nơi cư trú ổn định, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Điều này phù hợp với Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP15 tháng 5 năm 2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo; Nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, thì cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người dân biết tôn nghiêm của pháp luật, tôn trọng quyền nhân thân của người khác, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội, qua đó thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[2.4] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại và bị cáo thống nhất mức bồi thường thiệt hại 8.000.000 đồng, việc bị cáo và bị hại tự thỏa thuận là tự nguyện, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.5] Về xử lý vật chứng: Do cây dao dài dài khoảng 28cm, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại là hung khí phạm tội; bị hại không có yêu cầu nhận lại 01 cây cuốc dài khoảng 1,2m cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại; Nên cần tịch thu tiêu hủy.
[2.6] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo, có đơn xin miễn nộp án phí hình sự và án phí dân sự, nên bị cáo được miễn nộp tiền án phí. Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Chau Sa O phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
Xử phạt: Bị cáo Chau Sa O 09 (chín) tháng tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, thời hạn chấp hành được tính kể từ ngày tuyên án (24/5/2024);
Giao bị cáo Chau Sa O cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã T, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584, 585 và 590 của Bộ luật dân sự năm 2015: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, bị cáo Chau Sa O bồi thường thiệt hại cho bị hại Danh C 8.000.000 (Tám triệu đồng).
Căn cứ Điều 46, 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao dài khoảng 28cm, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại và 01 cây cuốc dài khoảng 1,2m cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại.
(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 23/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã T và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên)
Căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Chau Sa O được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Võ Thanh Hùng |
Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 37/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chau Sa O chém Danh C thương tích 6%, Danh C yaau cầu khởi tố đối với Chau Sa O
