|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2024/HS-ST Ngày: 24 – 5 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Đông.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Vi Anh Tú.
2/ Bà Lô Thị Hà.
Thư ký phiên toà: Bà Vị Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Hiếu – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/TLST – HS ngày 24 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 0/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Kim Văn T, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1981 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản K, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 11/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kim Văn T1 (đã chết) và bà Kim Thị M; vợ là Nguyễn Thị H và có 02 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2024 đến nay. (Có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị T2 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N – Công tác tại Chi nhánh trợ giúp pháp lý Nhà nước số 2, thị xã T, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)
- Người làm chứng: Anh Lê Đức T3, sinh năm: 1970, trú tại: Bản K, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn có tiền tiêu xài nên Kim Văn T nảy sinh ý định tìm mua ma túy với mục đích bán lại cho những người sử dụng ma túy để kiếm tiền lời, nên vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 10/01/2024 T một mình bắt xe khách lên huyện Q tìm mua ma túy, khi đến khu vực cầu treo thuộc xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An thì T xuống xe đi bộ, trên đường đi gặp một người đàn ông không quen biết, sau khi hỏi biết người đàn ông có ma túy nên T hỏi mua với số tiền 8.000.000đ (tám triệu đồng) và được người đàn ông đồng ý bán cho 02 (hai) gói ma túy, gói thứ nhất có đặc điểm được bọc bên ngoài bằng mảnh bao ni lông màu trắng, gói thứ hai được bọc bên ngoài bằng mảnh bao ni lông màu hồng, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột nén màu trắng. Sau khi mua được ma túy T bắt xe khách trở về nhà và cất giấu 02 (hai) gói ma túy mua được vào túi áo bên phải của chiếc áo lao động dài tay màu xanh của mình rồi treo lên sào treo đồ tại gian bếp của gia đình. Khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày có Lê Đức T3 đến hỏi mua ma túy để sử dụng thì được T đồng ý, T3 đưa cho T số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), sau khi nhận tiền T vào gian bếp lấy gói ma túy được bọc bằng mảnh bao ni lông màu trắng ra dùng tay bẻ lấy một ít rồi dùng mảnh bao ni lông màu trắng gói lại đưa cho T3, số ma túy còn lại T tiếp tục cất giấu vào chỗ cũ, sau khi mua được ma túy T3 đã sử dụng hết, số tiền bán ma túy T sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Đến chiều ngày 11/01/2024 T đến nơi mình cất giấu ma túy trước đó lấy gói ma túy được bọc bên ngoài bằng mảnh bao ni lông màu trắng bẻ lấy một ít gói vào mảnh giấy lịch màu trắng có chữ xanh rồi để trên ghế gỗ trong nhà với mục đích nhằm có người đến hỏi mua sẽ bán. Sau khi nhận tin báo của quần chúng nhân dân về hoạt động có dấu hiệu tội phạm tại nhà của T, đến khoảng 20 giờ cùng ngày khi T đang có mặt ở nhà tổ công tác Công an huyện Q đã tiến hành kiểm tra hành chính theo quy định, quá trình kiểm tra phát hiện 01 (một) gói nhỏ được bọc bằng giấy lịch có chữ màu xanh, bên trong chứa chất bột nén màu trắng (nghi là ma túy) để trên chiếc ghế gỗ trong nhà, ngoài ra phát hiện 02 (hai) gói nhỏ trong túi áo bên phải của chiếc áo lao động dài tay màu xanh treo trên sào tại gian bếp, gói thứ nhất có đặc điểm được bọc bên ngoài bằng mảnh bao ni lông màu trắng, gói thứ hai được bọc bên ngoài bằng mảnh bao ni lông màu hồng, bên trong mỗi gói đều chứa chất rắn màu trắng (nghi là ma túy), T khai nhận cả 03 (ba) gói thu được đều là ma túy T cất giấu với mục đích bán lại kiếm tiền lời, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng đưa về trụ sở để điều tra, xử lý theo quy định.
Tại biên bản mở niêm phong vật chứng xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, lập ngày 12/01/2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An, xác định: Mở gói niêm phong thứ nhất thấy bên trong gói niêm phong có 01 (một) gói chất rắn màu trắng, được bọc bằng tờ giấy lịch màu trắng có chữ màu xanh có khối lượng cả bì là 0,89g (không phẩy tám mươi chín gam); Sau khi loại bỏ bao bì, số chất rắn màu trắng có khối lượng là 0,04g (không phẩy không bốn gam). Cán bộ KTHS lấy toàn bộ 0,04g (không phẩy không bốn gam) chất rắn màu trắng nói trên để đưa đi giám định tính chất ma túy (Ký hiệu M1).
Mở gói niêm phong thứ hai thấy bên trong gói niêm phong có 02 (hai) gói chất rắn màu trắng, gói thứ nhất được bọc bằng mảnh bao ni lông màu trắng, có khối lượng cả bì là 4,0g (bốn phẩy không gam); Sau khi loại bỏ bao bì, số chất rắn màu trắng có khối lượng là 3,76g (ba phẩy bảy mươi sáu gam). Cán bộ KTHS lấy 0,75g (không phẩy bảy mươi lăm gam) chất rắn màu trắng nói trên để đưa đi giám định tính chất ma túy (Ký hiệu M2). Gói thứ hai được bọc bằng mảnh bao ni lông màu hồng, có khối lượng cả bì là 15,02g (mười lăm phẩy không hai gam); Sau khi loại bỏ bao bì, số chất rắn màu trắng có khối lượng là 14,14g (mười bốn phẩy mười bốn gam). Cán bộ KTHS lấy 1,55g (một phẩy năm mươi lăm gam) chất rắn màu trắng nói trên để đưa đi giám định tính chất ma túy (Ký hiệu M3).
Số vật chứng còn lại bao gồm 15,6g (mười lăm phẩy sáu gam) chất rắn màu trắng, tờ giấy lịch màu trắng có chữ màu xanh, mảnh bao ni lông màu hồng, mảnh bao ni lông màu trắng và vỏ bao niêm phong cũ sau khi kiểm tra, lấy mẫu xong được niêm phong lại theo đúng quy định.
Kết luận giám định số: 170/KL-KTHS(Đ2-MT), ngày 16/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “- 03 (ba) mẫu chất rắn màu trắng (ký hiệu M1, M2, M3) thu giữ của Kim Văn T vào ngày 11/01/2024 gửi giám định đều là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Số chất rắn màu trắng thu giữ của Kim Văn T vào ngày 11/01/2024 có tổng khối lượng là 17,94g (mười bảy phẩy chín mươi tư gam).”
Bản cáo trạng số: 37/CT-VKS-QC ngày 23/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, truy tố bị cáo Kim Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm i khoản 2 điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Kim Văn T từ 11 năm đến 12 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam.
Đề nghị xem xét miễn tiền án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật, ngoài ra đề nghị không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị truy thu từ bị cáo số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) là tiền do phạm tội mà có sung vào ngân sách Nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại gồm 15,6g (mười lăm phẩy sáu gam) ma túy, tờ giấy lịch màu trắng có chữ màu xanh, mảnh bao ni lông màu hồng, mảnh bao ni lông màu trắng và vỏ bao niêm phong cũ đã được niêm phong theo quy định.
- Ý kiến trình bày của người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí về tội danh, điều luật và khung hình phạt đề nghị áp dụng theo truy tố của Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng khi xét xử cần cân nhắc, xem xét đến những yếu tố bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, có trình độ nhận thức về pháp luật hạn chế, bị cáo mới phạm tội lần đầu, gia đình thuộc diện hộ nghèo khó khăn, quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra có ông nội tham gia kháng chiến nên đề nghị chấp nhận cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ những phân tích đã nêu đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án 10 đến 11 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là phù hợp. Ngoài ra bị cáo có đơn xin xem xét được miễn án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định, do đó cần xem xét cho bị cáo được miễn án phí và đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đối với phần xử lý vật chứng và án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, không bổ sung thêm vào bản bào chữa cho mình. Lời nói sau cùng tại phiên tòa bị cáo nhận tội và xin xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo để được sớm trở về với xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người làm chứng tại phiên tòa: Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng, tuy nhiên quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ, làm rõ những nội dung liên quan phù hợp với lời khai nhận của bị cáo, căn cứ vào Điều 293 Bộ luật tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng là đúng quy định.
[2] Những chứng cứ xác định có tội: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra Công an thu thập có tại hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại; kết luận giám định; bản tự khai, biên bản hỏi cung, lấy lời khai của bị cáo và người liên quan, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, cũng như những tài liệu, chứng cứ khách quan khác thu thập có trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định:
Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 11/01/2024 sau khi nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về hoạt động có dấu hiệu tội phạm tại nhà ở của bị cáo Kim Văn T tại bản K, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Tổ công tác Công an huyện Q đã tiến hành kiểm tra hành chính theo quy định, sau khi kiểm tra phát hiện trên ghế gỗ trong nhà bị cáo 01 (một) gói nhỏ được bọc bằng mảnh giấy lịch có chữ màu xanh bên trong có chứa ma túy (H), ngoài ra phát hiện trong túi áo bên phải của chiếc áo lao động dài tay màu xanh của bị cáo treo trên sào tại gian bếp 02 gói ma túy, gói thứ nhất có đặc điểm được bọc bên ngoài bằng mảnh bao ni lông màu trắng, gói thứ hai bọc bên ngoài bằng mảnh bao ni lông màu hồng, bên trong mỗi gói đều chứa chất ma túy (Heroine), sau khi loại bỏ bao gói số ma túy (Heroine) thu được từ bị cáo có tổng trọng lượng là 17,94g (mười bảy phẩy chín mươi tư gam), bị cáo thừa nhận toàn bộ ma túy thu được nhằm mục đích bán lại cho những người sử dụng để thu lợi, trước đó ngày 10/01/2024 bị cáo đã bán cho Lê Đức T3 01 (một) gói ma túy với số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) gói ma túy T3 đã sử dụng hết không thu giữ được, số tiền bán ma túy bị cáo tiêu xài cá nhân hết. Hành vi đã thực hiện của bị cáo cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương, bởi ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các căn bệnh truyền nhiễm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của chất ma túy nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, lao động hoặc làm công việc hợp pháp để có thu nhập chính đáng mà cố ý phạm tội nhằm có tiền nhanh nhất thỏa mãn nhu cầu của cá nhân nên đã cố ý phạm tội, do đó cần lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng, phù hợp với hành vi phạm tội đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để bị cáo có thời gian cải tạo, giáo dục, sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
[4] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận có ông nội là người có công, tuy nhiên chỉ cung cấp được Quyết định về chế độ trợ cấp một lần đối quân nhân tham gia kháng chiến chống Mĩ, không có tài liệu chứng minh về việc có công theo quy định như huân, huy chương hoặc xác nhận và các hình thức khen thưởng khác nên Hội đồng xét xử không chấp nhận áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo theo đề nghị của người bào chữa.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Kim Văn T 12 (mười hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 11/01/2024.
2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu từ bị cáo Kim Văn T số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) do phạm tội mà có sung vào Ngân sách Nhà Nước.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư dán kín bên trong chứa: 15,6g (mười lăm phẩy sáu gam) heroine, tờ giấy lịch màu trắng có chữ màu xanh, mảnh bao ni lông màu trắng, mảnh bao ni lông màu hồng và vỏ bao niêm phong cũ mặt trước phong bì ghi : “Vật chứng còn lại thuộc vụ Kim Văn T – Mua bán trái phép chất ma túy xảy ra ngày 11/01/2024 tại bản Kẻ Nâm, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An”... (Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao, nhận vật chứng, lập ngày 23/4/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An)
3. Án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Kim Văn T.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hà Văn Đông |
Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 37/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do cần tiền tiêu xài nên T nảy sinh ý định tìm mua ma túy bán lại kiếm lời, sau đó T ên huyện QP tìm mua được 02 gói ma túy về cất giấu trong nhà, sau đó có Lê Đức T đến hỏi mua và được T bán cho 01 gói nhỏ với số tiền 200.000đ, sau khi nhận được tin báo về hoạt động tội phạm lực lượng Công an đã tiến hành kiểm tra phát hiện bắt giữ T thu giữ số ma túy còn lại có trọng lượng là 17,94g (heroine).
