Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẮK R'LẤP

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày: 24 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Đoàn Minh Hương.
  • Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thùy và ông Lê Thế Kỳ.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường là Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Kiều Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm là trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông và điểm cầu thành phần là Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 38/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 40/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Phạm Văn T, sinh năm 1993 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi thường trú: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi tạm trú: Thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; chỗ ở hiện nay: Thôn I, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Bốc vác; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; tiền án, tiền sự: Không; con ông Phạm Văn T1 và bà Phạm Thị Ấ; có vợ là bà Phạm Thị P và có 01 con sinh năm 2013; bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 17-01-2024, đang bị tạm giam theo Quyết định tạm giam số 34/2024/HSST-QĐTG ngày 04-5-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R'Lấp. Có mặt.

Người làm chứng:

  • - Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn C, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Vắng mặt.
  • - Bà Võ Thị Xuân H, sinh năm 1992. Địa chỉ: Tổ dân phố F, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Vắng mặt.
  • - Ông Võ Anh T3, sinh năm 1997. Địa chỉ: Thôn 1, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2018, Phạm Văn T đến xã N, huyện Đ thuê trọ và sinh sống bằng nghề bốc vác. Đến tháng 8 năm 2023, T chuyển đến thuê trọ tại phòng trọ số 7 thuộc dãy nhà trọ của ông Võ Anh T3 và bà Nguyễn Thị N tại Thôn 1, xã N, huyện Đ. Trong thời gian sinh sống tại xã N, T quen biết V (không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể), cùng làm nghề bốc vác và có đến phòng trọ của T chơi. Tại phòng trọ của T, V lấy các vật dụng để sử dụng ma túy đá gồm: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, 01 quẹt gas màu vàng, 01 quẹt gas trong suốt có gắn một tim lửa tự chế rồi rủ T tìm mua mua túy đá để sử dụng với nhau. Nhưng do không mua được ma túy đá, nên V để lại các vật dụng này tại phòng trọ của T, rồi bỏ đi. Sau đó, T đã cất giấu các dụng cụ sử dụng ma túy đá vào phía sau chiếc tủ lạnh được kê trong phòng trọ của T.

Khoảng 14 giờ ngày 17-01-2024, trong khi đang bốc xếp hàng hóa tại đoạn đường thuộc địa phận xã Đ, huyện Đ, T gặp V điều khiển một chiếc xe mô tô(T không rõ BKS) đi ngang qua. V đưa cho T 01 đoạn ống hút bằng nhựa trong suốt sọc trắng, hàn kín hai đầu bên trong chứa ma túy đá rồi điều khiển xe bỏ đi. Còn T cất giấu ma túy trên người nhằm mục đích mang về phòng trọ để sử dụng. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, sau khi ăn uống tại thôn G, xã N, huyện Đ, T gọi điện thoại cho Nguyễn Văn T2 (sinh năm 1990, trú tại thôn C, xã N, huyện Đ), nhờ T2 đến đón T về phòng trọ của T. Khoảng 20 giờ, T2 điều khiển xe môtô nhãn hiệu YAMAHA, loại NOZZA BKS: 77H1 - 184.43 đến đón T. Trên đường về, T rủ T2 vào phòng trọ của T để sử dụng ma túy đá thì T2 đồng ý. Khoảng 20 giờ 30 phút, tại phòng trọ của mình, T lấy các vật dụng dùng để sử dụng ma túy đá được giấu sau lưng tủ lạnh mang ra để lên chiếc bàn gỗ công nghiệp (kê gần cửa phòng trọ). Sau đó, T lấy đoạn ống hút chứa ma túy ra, dùng chiếc kéo có sẵn trên bàn gỗ, cắt xéo một đầu của đoạn ống hút và đổ hết ma túy đá vào bên trong đoạn ống thủy tinh “nỏ” gắn tại bộ D sử dụng ma túy đá. Tiếp đến, T dùng quẹt gas màu vàng mồi lửa cho chiếc quẹt gas có gắn tim lửa đốt ma túy bên trong “nỏ” rồi sử dụng ma túy đá. T đặt bộ dụng cụ và quẹt gas trong suốt có gắn tim lửa tự chế xuống bàn. Lúc này, phía trên tim lửa vẫn còn lửa, nên Thân tự cầm bộ dụng cụ và quẹt gas trong suốt có gắn tim lửa tự lên đốt ma túy, rồi hút một hơi. T và T2 luân phiên nhau mỗi người sử dụng được khoảng ba hơi thì bị Công an huyện Đ kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang thu giữ tang vật. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận giám định số: 66/KL-KTHS ngày 23/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

  • - Chất rắn màu nâu đen bám dính bên trong 01 (một) đoạn ống thủy tinh “nỏ”, có chiều dài 11cm, một đầu đoạn ống thủy tinh có đường kính 0,4cm, đoạn ống thủy tinh này được uốn cong một đầu, phía đầu đoạn uốn cong có hình bầu dục, được niêm phong trong bì thư có ghi chữ “M01” gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng mẫu là 0,0398 gam (hoàn lại sau giám định là 0,0267 gam).
  • - Chất rắn dạng tinh thể bên màu trắng trong 01 (một) đoạn ống hút nhựa trong suốt có sọc trắng, kích thước (2,9x1)cm, một đầu được hàn kín, một đầu được cắt xéo, được niêm phong trong bì thư có ghi chữ “M02” gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng mẫu là 0,0117 gam (hoàn lại sau giám định là 0,0043 gam).

Về thu giữ, tạm giữ vật chứng, tài liệu, đồ vật: Cơ quan CSĐT Công an huyện thu giữ tại phòng trọ của Phạm Văn T:

  • - 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, có cấu tạo gồm một lọ nhựa trong suốt có gắn nắp đậy được đục hai lỗ tròn, trong đó một lỗ gắn với đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng, một lỗ gắn với một đoạn ống thủy tinh “nỏ”, có chiều dài 11cm, một đầu đoạn ống thủy tinh có đường kính 0,4cm, đoạn ống thủy tinh này được uốn cong một đầu, phía đầu đoạn uốn cong có hình bầu dục, bên trong hình bầu dục có bám dính chất rắn màu nâu đen (ký hiệu M01).
  • - 01 (một) đoạn ống hút nhựa trong suốt có sọc trắng, kích thước (2,9x1)cm, một đầu được hàn kín, một đầu được cắt xéo, bên trong có bám dính chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M02).
  • - 01 (một) quẹt gas màu vàng;
  • - 01 (một) quẹt gas trong suốt có gắn tim lửa tự chế;
  • - 01 (một) chiếc kéo kim loại màu trắng;
  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đỏ, IMEI1: 865566043859793, IMEI2: 86556604359721 của Phạm Văn T.

Thu giữ của Nguyễn Văn T2:

  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, số IMEI1: 864267041212432, IMEI2: 864267041212424;
  • - 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA, loại NOZZA, số máy: 3N4E-009972, số khung: 610EY-009969, BKS: 77H1-184.43.

Cáo trạng số: 41/CT-VKS-ĐL ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'Lấp đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Sau khi

xem xét các chứng cứ buộc tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17-01-2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho các chủ sở hữu hợp pháp, gồm: Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, số IMEI 1: 864267041212432, số IMEI 2: 864267041212424 cho anh Nguyễn Văn T2; trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đỏ, số IMEI 1: 865566043859739, số IMEI 2: 86556604359721 cho bị cáo Phạm Văn T; trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại NOZZA, BKS: 77H1-184.43 cho chị Võ Thị Xuân H.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy công cụ, phương tiện phạm tội và vật cấm tàng trữ, gồm: 0,0267 gam chất ma túy Methamphetamine (hoàn lại sau giám định) và đoạn ống thủy tinh đựng mẫu gửi giám định, được bỏ vào một phong bì thư niêm phong; 0,0043 gam chất ma túy Methamphetamine (hoàn lại sau giám định) và đoạn ống hút đựng mẫu gửi giám định được bỏ vào một phong bì thư niêm phong; là 02 (hai) chiếc quẹt gas; 01 (một) chiếc kéo kim loại màu trắng; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế được cấu tạo bằng một lọ nhựa trong suốt có gắn nắp đậy được đục 02 lỗ tròn, trong đó một lỗ gắn với đoạn ống hút nhựa màu trắng.

Đối với hành vi của Nguyễn Văn T2: Quá trình điều tra xác định T2 chỉ thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy mà không đồng phạm trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với bị cáo T. Công an huyện Đ đã lập hồ sơ đề nghị xử lý vi phạm hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T2, là có căn cứ.

Đối với hành vi của anh Võ Anh Q, người trực tiếp quản lý dãy phòng trọ tại thôn I, xã N, huyện Đ: Quá trình điều tra xác định anh Q không biết bị cáo Phạm Văn T có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, anh Q để T thực hiện hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn T2 tại phòng trọ số 7 do mình quản lý. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã chuyển hồ sơ và các tài liệu liên quan, kiến nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Q theo quy định pháp luật.

Đối với hành vi của người nam giới tên V: Quá trình điều tra, bị cáo T khai nhận V là người đã để bộ dụng cụ sử dụng ma túy tại phòng trọ của T và cho T 01 (một) gói ma túy vào ngày 17-01-2024. Tuy nhiên quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không thu thập được thông tin, tài liệu phản ánh về nhân thân, lai lịch của V nên không có căn cứ xử lý.

Tại phiên tòa, bị cáo không trình bày lời bào chữa, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'Lấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận:

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 17-01-2024, tại phòng trọ thuộc thôn I, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, bị cáo Phạm Văn T đã có hành vi cung cấp địa điểm, ma túy và chuẩn bị các dụng cụ cần thiết để tổ chức cùng Nguyễn Văn T2 sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine.

Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Điều 255 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”

[3] Xét hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy; hệ lụy hành vi phạm tội của bị cáo có thể gây ra những tác động tiêu cực cho xã hội và có thể là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ngoài ra còn xâm phạm trực tiếp đến tình hình trật tự trị an của địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó phải xử lý nghiêm thì mới đủ tác dụng giáo dục người phạm tội và phòng ngừa loại tội phạm này.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét, bị cáo không có thu nhập và tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Việc xử lý vật chứng:

- Xét thấy 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, số IMEI1: 864267041212432, IMEI2: 864267041212424 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn T2; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đỏ, IMEI1: 865566043859793, IMEI2: 86556604359721 là tài sản hợp pháp của bị cáo Phạm Văn T; 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA, loại NOZZA, số máy: 3N4E-009972, số khung: 610EY-009969, BKS: 77H1-184.43 là tài sản hợp pháp của chị Võ Thị Xuân H, đều không liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho các chủ sở hữu hợp pháp, gồm: Trả lại điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh cho anh Nguyễn Văn T2; trả lại điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đỏ cho bị cáo Phạm Văn T; trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại NOZZA, BKS: 77H1-184.43 cho chị Võ Thị Xuân H, là có căn cứ chấp nhận.

Đối với công cụ, phương tiện phạm tội và vật cấm tàng trữ, gồm: 0,0267 gam chất ma túy Methamphetamine (hoàn lại sau giám định) và đoạn ống thủy tinh đựng mẫu gửi giám định, được bỏ vào một phong bì thư niêm phong; 0,0043 gam chất ma túy Methamphetamine (hoàn lại sau giám định) và đoạn ống hút đựng mẫu gửi giám định được bỏ vào một phong bì thư niêm phong; là 02 (hai) chiếc quẹt gas; 01 (một) chiếc kéo kim loại màu trắng; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế được cấu tạo bằng một lọ nhựa trong suốt có gắn nắp đậy được đục 02 lỗ tròn, trong đó một lỗ gắn với đoạn ống hút nhựa màu trắng, cần tịch thu tiêu hủy

[7] Đối với hành vi của Nguyễn Văn T2: Quá trình điều tra xác định T2 chỉ thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy mà không đồng phạm trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với bị cáo T. Công an huyện Đ đã lập hồ sơ đề nghị xử lý vi phạm hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T2, là có căn cứ.

Đối với hành vi của anh Võ Anh Q, người trực tiếp quản lý dãy phòng trọ tại thôn I, xã N, huyện Đ: Quá trình điều tra xác định anh Q không biết bị cáo Phạm Văn T có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, anh Q để T thực hiện hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn T2 tại phòng trọ số 7 do mình quản lý. Vì vậy, Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ và các tài liệu liên quan, kiến nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Q theo quy định pháp luật.

Đối với hành vi của người nam giới tên V: Quá trình điều tra, bị cáo T khai nhận V là người đã để bộ dụng cụ sử dụng ma túy tại phòng trọ của T và cho T 01 (một) gói ma túy vào ngày 17-01-2024. Tuy nhiên quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không thu thập được thông tin, tài liệu phản ánh về nhân thân, lai lịch của V nên không có căn cứ xử lý.

[8] Xét quan điểm đề nghị xử lý của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17-01-2024.

  2. Việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; căn cứ khoản 2, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho các chủ sở hữu hợp pháp, gồm: Trả lại điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh cho anh Nguyễn Văn T2; trả lại điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đỏ cho bị cáo Phạm Văn T; trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại NOZZA, BKS: 77H1-184.43 cho chị Võ Thị Xuân H.

    Tịch thu tiêu hủy: 0,0267 gam chất ma túy Methamphetamine (hoàn lại sau giám định) và đoạn ống thủy tinh đựng mẫu gửi giám định, được bỏ vào một phong bì thư niêm phong; 0,0043 gam chất ma túy Methamphetamine (hoàn lại sau giám định) và đoạn ống hút đựng mẫu gửi giám định được bỏ vào một phong bì thư niêm phong; là 02 (hai) chiếc quẹt gas; 01 (một) chiếc kéo kim loại màu trắng; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế được cấu tạo bằng một lọ nhựa trong suốt có gắn nắp đậy được đục 02 lỗ tròn, trong đó một lỗ gắn với đoạn ống hút nhựa màu trắng.

    (Có đặc điểm như trong trong biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04-5-2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk R'Lấp)

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND tỉnh Đắk nông;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND huyện Đắk R'Lấp;
  • - Phòng PV 06, PC 06, PC 10 (CA tỉnh Đắk Nông);
  • - Chi cục THADS huyện Đắk R'Lấp;
  • - Công an huyện Đắk R'Lấp;
  • - Bị cáo;
  • - NCQLNVLQ;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Mai Đoàn Minh Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 17-01-2024, tại phòng trọ thuộc thôn 9, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, bị cáo Phạm Văn T đã có hành vi cung cấp địa điểm, ma túy và chuẩn bị các dụng cụ cần thiết để tổ chức cùng Nguyễn Văn Th sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger