Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN ĐỀ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HS-ST.

Ngày: 23 - 9 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Mỹ Xuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thạch Văn Mến.

Ông Trần Hoàng Việt.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Khánh Huy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Kiều Thanh Thật - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thanh D; Sinh ngày 04 tháng 4 năm 1997, tại: huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (sống) và bà Lâm Thị T (sống); tiền án: không; tiền sự: không; vợ và con: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/6/2024 và chuyển tạm giam cho đến nay (Có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Trần S; Sinh năm: 1995. Nơi cư trú: Ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Có mặt).

+ Châu Thị Sà P; Sinh năm: 1950. Nơi cư trú: Ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ, ngày 06/6/2024, bị cáo Nguyễn Thanh D liên hệ qua điện thoại mua ma tuý đá của người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch với số tiền là 2.000.000 đồng về sử dụng, người đàn ông giao ma túy cho D trên đường tỉnh lộ 934 khu vực thuộc ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi lấy ma túy, D mang ma tuý về nhà và kiểm tra bên trong vỏ gói thuốc có: 01 (một) bịch ma tuý lớn và 04 (bốn) đoạn ống nhựa màu xanh hàn kín có chứa ma tuý, bị cáo lấy ra một ít sử dụng. Đến khoảng hơn 21 giờ cùng ngày, bị cáo D điện thoại rủ Trần S lấy xe Future, biển số 83Y1- 029.07 của S chở D qua nhà bạn ở ấp B, xã T, huyện T để nhậu, nhưng do S có uống rượu, nên kêu D điều khiển chở S. Khi đi, D có cầm theo một bịch ma túy lớn trên tay trái, D điều khiển xe chạy qua đến khu vực ấp B, xã T thì bị lực lượng tuần tra Đồn Biên phòng T1 yêu cầu dừng xe để kiểm tra và phát hiện D đang cầm trong tay trái 01 (một) bịch nilon trong suốt có viền vuốt màu xanh bên trong có ma tuý tinh thể rắn nghi là ma tuý đá, nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ tang vật có liên quan. Đồng thời, tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Thanh D, qua khám xét phát hiện thu giữ 03 (ba) đoạn ống nhựa màu xanh có chứa ma túy được niêm phong ký hiệu “Gói số 2” trong phòng ngủ của D.

Tại Kết luận giám định số 94/KLMT-KTHS ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Phòng K công an tỉnh S kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng (Gói 1) được niêm phong gửi giám định không tìm thấy thành phần các chất ma tuý và tiền chất theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ, có khối lượng 3,9405 gam. Mẫu tinh thể rắn màu trắng (Gói 2) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2033 gam, loại Methamphetamine.

Trên cơ sở kết quả điều tra và những tài liệu, chứng cứ thu thập được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với Nguyễn Thanh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Vật chứng trong vụ án: Trong quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã quyết định thu giữ: 3,6561 gam mẫu chất tinh thể rắn màu trắng và vỏ (không phải chất ma tuý và tiền chất ma tuý) còn lại sau giám định; 0,1763 gam ma tuý còn lại sau giám định; 01 cây kéo màu trắng bằng kim loại; 01 điện thoại di động cảm ứng, hiệu Sam sung; 01 điện thoại di động cảm ứng, hiệu OPPO màu vàng; 01 xe mô tô màu đỏ - đen, hiệu Honda - Future, biển số 83Y1-029.07; Tiền Việt Nam: 200.000 đồng. Qua điều tra xác định: điện thoại di động cảm ứng, hiệu OPPO màu vàng; xe mô tô màu đỏ - đen, hiệu Honda - Future, biển số 83Y1-029.07 là tài sản của Trần S không liên quan đến vụ án, nên đã trao trả cho Trần S; Tiền Việt Nam 200.000 đồng, điện thoại di động cảm ứng, hiệu sam sung là tài sản của Nguyễn Thanh D không liên quan đến vụ án nên đã trao trả cho bị cáo D.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo D tại khu vực ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng do thông tin của người này quá ít, nên không thể xác minh làm việc được. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra xác minh và xử lý sau.

- Tại bản cáo trạng số: 35/CT-VKSTĐ, ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng để xét xử đối với Nguyễn Thanh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cáo trạng số: 35/CT-VKSTĐ, ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như sau: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án, chưa tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thanh D từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; Về xử lý vật chứng của vụ án (Các biện pháp tư pháp): 3,6561 gam mẫu chất tinh thể rắn màu trắng và vỏ (không phải chất ma túy và tiền ma túy) còn lại sau giám định; 0,1763 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo không màu trong phong bì màu trắng bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số 4/2024, ngày 18/6/2024”, có chữ ký ghi họ tên của những người tham gia đóng gói, niêm phong và hai dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh S; 01 (một) cây kéo màu trắng bằng kim loại không còn giá trị sử dụng, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên tịch thu, tiêu hủy; Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung bằng tiền. Tuy nhiên, xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có thu nhập ổn định, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần S: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Châu Thị Sà P: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Ý kiến của bị cáo Nguyễn Thanh D: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề đã truy tố, bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi của mình đã gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà hôm nay bị cáo Nguyễn Thanh D thừa nhận: Vào khoảng 20 giờ, ngày 06/6/2024, bị cáo Nguyễn Thanh D liên hệ qua điện thoại mua ma tuý đá của người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch với số tiền là 2.000.000 đồng về sử dụng, người đàn ông giao ma túy cho D trên đường tỉnh lộ 934 khu vực thuộc ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi lấy ma túy, D mang ma tuý về nhà và kiểm tra bên trong vỏ gói thuốc có: 01 (một) bịch ma tuý lớn và 04 (bốn) đoạn ống nhựa màu xanh hàn kín có chứa ma tuý, bị cáo lấy ra một ít sử dụng. Đến khoảng hơn 21 giờ cùng ngày, bị cáo D điện thoại rủ Trần S lấy xe Future, biển số 83Y1- 029.07 của S chở D qua nhà bạn ở ấp B, xã T, huyện T để nhậu, nhưng do S có uống rượu, nên kêu D điều khiển chở S. Khi đi, D có cầm theo một bịch ma túy lớn trên tay trái, D điều khiển xe chạy qua đến khu vực ấp B, xã T thì bị lực lượng tuần tra Đồn Biên phòng T1 yêu cầu dừng xe để kiểm tra và phát hiện D đang cầm trong tay trái 01 (một) bịch nilon trong suốt có viền vuốt màu xanh bên trong có ma tuý tinh thể rắn nghi là ma tuý đá, nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ tang vật có liên quan. Đồng thời, tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Thanh D, qua khám xét phát hiện thu giữ 03 (ba) đoạn ống nhựa màu xanh có chứa ma túy được niêm phong ký hiệu “Gói số 2” trong phòng ngủ của D.

[3] Đối với lời khai nhận tội và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy lời thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người trên 18 tuổi, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây mất an ninh trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Hành vi này của bị cáo cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Cáo trạng số: 35/CT-VKSTĐ, ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo. Do đó, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm mục đích cải tạo, răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội sau này và có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thanh D thấy rằng, trước khi lượng hình cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như sau: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án, chưa tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, căn cứ vào điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo cũng là đúng pháp luật.

[5] Về xử lý vật chứng của vụ án (Các biện pháp tư pháp): 3,6561 gam mẫu chất tinh thể rắn màu trắng và vỏ (không phải chất ma túy và tiền ma túy) còn lại sau giám định; 0,1763 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo không màu trong phong bì màu trắng bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số 4/2024, ngày 18/6/2024”, có chữ ký ghi họ tên của những người tham gia đóng gói, niêm phong và hai dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh S; 01 (một) cây kéo màu trắng bằng kim loại không còn giá trị sử dụng, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên tịch thu, tiêu hủy; Đối với 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, hiệu Sam sung; 01 điện thoại di động cảm ứng, hiệu OPPO màu vàng; 01 xe mô tô màu đỏ - đen, hiệu Honda - Future, biển số 83Y1-029.07; Tiền Việt Nam: 200.000 đồng. Qua điều tra xác định: điện thoại di động cảm ứng, hiệu OPPO màu vàng; xe mô tô màu đỏ - đen, hiệu Honda - Future, biển số 83Y1-029.07 là tài sản của Trần S không liên quan đến vụ án, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu bằng hình thức trao trả tài sản lại cho chủ sở hữu Trần S; Tiền Việt Nam 200.000 đồng, điện thoại di động cảm ứng, hiệu Sam sung là tài sản của Nguyễn Thanh D không liên quan đến vụ án, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu bằng hình thức trao trả tài sản lại cho chủ sở hữu D, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung bằng tiền. Tuy nhiên, xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có thu nhập ổn định, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh D là người bị kết án, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

+ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh D 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06 tháng 6 năm 2024.

- Về xử lý vật chứng (Các biện pháp tư pháp): Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên tịch thu, tiêu hủy: 3,6561 gam mẫu chất tinh thể rắn màu trắng và vỏ (không phải chất ma túy và tiền ma túy) còn lại sau giám định; 0,1763 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo không màu trong phong bì màu trắng bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số 4/2024, ngày 18/6/2024”, có chữ ký ghi họ tên của những người tham gia đóng gói, niêm phong và hai dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh S; 01 (một) cây kéo màu trắng bằng kim loại.

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, xử buộc bị cáo Nguyễn Thanh D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

- Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Trần Đề;
  • - Chi cục THADS huyện Trần Đề;
  • - CAND huyện Trần Đề;
  • - Cơ quan THAHS huyện Trần Đề;
  • - Bị cáo;
  • - NCQL, NVLQ;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Mỹ Xuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt Nguyễn Thanh D 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger