Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGỌC LẶC

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày: 23 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Xuân Thành

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Đức Hoàn

2. Ông Bùi Trung Thành

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thuyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện VKSND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn T - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Phạm Thúc S - Sinh ngày 03/8/1990 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Khu phố C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; giới tính N; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 3/12; Con ông: Phạm Hùng S1; sinh năm 1961 và bà: Bùi Thị K; sinh năm 1960; Vợ Lê Thị T1; sinh năm 1991 (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2011; Tiền án; tiền sự Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/3/2024 cho đến nay. Có mặt

2. Phạm Thúc H - Sinh ngày 19/6/1989 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Khu phố C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; giới tính N; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 3/12; Con ông: Phạm Thúc Q; sinh năm 1955 và bà: Bùi Thị N1; sinh năm 1960; Bị cáo chưa có vợ chưa có con; Tiền án; tiền sự Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/3/2024 cho đến nay. Có mặt.

* Người làm chứng:

- Anh: Phạm Thúc C; sinh năm 2003. (Có mặt)

Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

- Ông: Bùi Đức H1; sinh năm 1970. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Phố L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

- Bà: Bùi Thị K; sinh năm 1965. (Có mặt)

Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 06/03/2024 tại khu vực bờ ruộng phía sau khu tập thể của Bệnh viện Đ1 thuộc khu phố L, thị trấn N, Công an huyện N bắt quả Phạm Thúc S ở khu phố C, thị trấn N, huyện N, thu giữ bàn tay trái S đang cầm 01 gói nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy loại heroine, người còn lại là Phạm Thúc H ở khu phố C, thị trấn N, huyện N.

Quá trình điều tra xác định: Ngày 06/3/2024, Phạm Thúc SPhạm Thúc H đến Bệnh viện Đ1 để thăm và chăm Phạm Thúc C (là cháu của S và H). Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, S hỏi H “lâu ngày có làm một tí không?” (tức là sử dụng ma túy), H đồng ý nên S đưa cho H 500.000 đồng để cùng đi mua ma túy. Sức điều khiển xe mô tô BKS 36K5-339.42 chở H đi đến chi nhánh D huyện N thì H vào mua xi lanh và mượn điện thoại của S gọi đến số điện thoại 0862.104.xxx của Phạm Thúc H2 ở khu phố C, thị trấn N, huyện N để mua ma túy. Sau đó, H bảo S điều khiển xe mô tô đi đến khu vực nghĩa địa làng N thuộc khu phố C, thị trấn N, huyện N. Tại đây, H bảo S đứng chờ rồi điều khiển xe mô tô đi lên khu vực đồi mua ma túy, một lúc sau H quay lại đón S rồi cả hai đi đến khu vực bờ ruộng phía sau khu tập thể bệnh viện Đ1 để sử dụng ma túy. H đưa gói ma túy vừa mua được cho S cầm, khi cả hai chuẩn bị sử dụng ma túy thì bị Công an huyện N phát hiện bắt quả tang.

Tại bản kết luận giám định số 967/KL-KTHS ngày 11/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: “Chất bột màu trắng của phong bì ký hiệu M niêm phong gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng là 0,226g (không phẩy hai hai sáu gam), loại: Heroine”.

- Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

- Cơ quan điều tra thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đỏ, loại máy cảm ứng, bên trong lắp thẻ sim 0898.785.136; 02 bơm tiêm còn nguyên vẹn; 01 phong bì do Phòng K1 Công an tỉnh T phát hành, mặt trước có ghi “PHONG BÌ NIÊM PHONG MẪU VẬT VỤ: C1 TC228 ngày 07/3/2024”, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Lê Minh T2, Lưu Bình N2, Nguyễn Trung Đ và các hình con dấu của Phòng K1 Công an tỉnh T là vật chứng liên quan vụ án, chuyển đến Kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc để xét xử và thi hành án.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 36K5-339.42, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu anh Phạm Thúc C ở khu phố C, thị trấn N, huyện N. Việc S, H sử dụng xe đi mua ma túy anh C không biết, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp với quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Không.

Bản cáo trạng số: 45/CT-VKSNL ngày 24/6/2024 của VKSND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố các bị cáo Phạm Thúc SPhạm Thúc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa Đại diện viện kiểm sát đề nghị hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự cho cả hai bị cáo.
  • - Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo:

Phạm Thúc S từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 06/3/2024.

Phạm Thúc H từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 06/3/2024.

  • - Về xử lý vật chứng:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì do Phòng K1 Công an tỉnh T phát hành, mặt trước có ghi “PHONG BÌ NIÊM PHONG MẪU VẬT VỤ: C1 TC228 ngày 07/3/2024", dán kín, niêm phong bởi các chữ ký và các hình con dấu và 02 bơm tiêm chưa qua sử dụng.

Đề nghị trả lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đỏ, loại máy cảm ứng màn hình đã vỡ nứt cho chủ sở hữu hợp pháp.

  • - Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nhận tội thống nhất với quan điểm luận tội không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, lời khai của các bị cáo có trong hồ sơ cũng như tại phiên tòa đã khai nhận rõ: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 06/3/2024, tại khu vực bờ ruộng phía sau khu tập thể Bệnh viện Đ1, Công an huyện N bắt quả tang Phạm Thúc SPhạm Thúc H có hành vi cất dấu 0,226g ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng, cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, hành vi phạm tội: Trong những năm qua tình hình về tội phạm ma túy dưới mọi hình thức trong cả nước nói chung và trên địa bàn huyện N nói riêng ngày càng tăng. Các vụ án ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, tình trạng sử dụng ma túy diễn ra ngày càng nhiều. Có thể nói ma túy là một tệ nạn đang nhức nhối nhất hiện nay mà Đảng, nhà nước và nhân dân ta đã và đang quyết tâm loại trừ ra khỏi đời sống xã hội, vì ma tuý có tác hại nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ, hạnh phúc của mọi người, mọi nhà, làm suy thoái về giống nòi, suy đồi về đạo đức, lối sống, ma tuý làm lây lan căn bệnh thế kỷ HIV, do ma tuý mà một loạt các tội phạm khác gia tăng. Các bị cáo đủ nhận thức để hiểu được những tác hại do ma túy gây ra và các hành vi về tàng trữ, mua bán, sử dụng, lôi kéo người khác đều vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy, gây nên dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh, an toàn xã hội cũng như tiếp tay cho những kẻ buôn bán trái phép chất ma túy. Vì vậy cần phải lên cho các bị cáo một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, vai trò và trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo nên cả hai bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

Trong vụ án này các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn tuy nhiên cần thiết phải áp dụng Điều 17 và Điều 58 BLHS căn cứ vào vai trò, hành vi, của từng bị cáo để lên cho mỗi bị cáo mức hình phạt tương xứng.

Phạm Thúc S là người khởi xướng, rủ rê và đưa tiền cho Phạm Thúc H để cùng đi mua ma túy về nhằm mục đích sử dụng. Đối với Phạm Thúc H là người thực hiện hành vi tích cực, sau khi S đưa tiền để H đi mua ma túy, H đã dùng điện thoại của S gọi điện liên hệ và cùng với S đi mua ma túy về nhằm mục đích để sử dụng chung, khi S và H đang chuẩn bị sử dụng ma túy thì bị phát hiện và bắt quả tang. Xét về vai trò thì Phạm Thúc S phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn Phạm Thúc H. Đối với Phạm Thúc H là người thực hiện hành vi phạm tội với vai trò giúp sức tích cực do đó H chịu trách nhiệm hình sự thấp hơn Phạm Thúc S. Xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục cũng như để các bị cáo thấy được tính nghiêm minh của pháp luật.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - Phong bì do Phòng K1 Công an tỉnh T phát hành, mặt trước có ghi “PHONG BÌ NIÊM PHONG MẪU VẬT VỤ: C1 TC228 ngày 07/3/2024” dán kín, niêm phong bởi các chữ ký và các hình con dấu, đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 02 bơm tiêm chưa qua sử dụng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đỏ, loại máy cảm màn hình bị vỡ nứt là vật chứng không liên quan đến vụ án nên trả cho chủ sở hữu hợp pháp.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản cá nhân có giá trị nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[7] Về án phí: Các bị cáo Phạm Thúc SPhạm Thúc H phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với cả hai bị cáo Phạm Thúc SPhạm Thúc H.

Tuyên bố: Phạm Thúc SPhạm Thúc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Phạm Thúc S 18 (Mười tám) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/3/2024.

Xử phạt: Phạm Thúc H 15 (Mười lăm) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/3/2024..

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì do Phòng K1 Công an tỉnh T phát hành, mặt trước có ghi “PHONG BÌ NIÊM PHONG MẪU VẬT VỤ: C1 TC228 ngày 07/3/2024", dán kín, niêm phong bởi các chữ ký và các hình con dấu.

Tịch thu tiêu hủy 02 bơm tiêm chưa qua sử dụng

Trả lại cho chủ sở hữu Phạm Thúc S chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đỏ, loại máy cảm ứng, màn hình vỡ nứt.

Hiện vật chứng, tài sản đang được nhập kho Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa theo phiếu nhập kho số NK 2022/047 ngày 26/6/2024.

Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Phạm Thúc SPhạm Thúc H mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo. Tuyên bố các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND huyện Ngọc Lặc;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Ngọc Lặc;
  • - Cơ quan THAHS công an huyện Ngọc Lặc;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Vĩnh Lộc;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Chi cục THADS huyện Ngọc Lặc;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Xuân Thành

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Đức Hoàn Bùi Trung Thành Phạm Xuân Thành
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger