|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 37/2024/HNGĐ-ST Ngày 23 - 05 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Thế Hải
2. Bà Nguyễn Thị Sen
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Vân Ánh - Là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Ông Kim Duy C - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 05 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 199/2023/TLST-HNGĐ ngày 01/11/2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 50/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 của TAND thị xã Nghi Sơn giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị L, sinh năm 194
Bị đơn: Anh Lê Văn S, sinh năm 1984
Cùng HKTT: Tổ dân phố L, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Chị Trần Thị L và anh Lê Văn S đều có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị L trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh S có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T (nay là thị xã N), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 18/01/2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, lối sống không hợp nhau dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, to tiếng, anh S thường chửi bới, xúc phạm, đánh đập chị. Mâu thuẫn được hai bên gia đình nội ngoại động viên, khuyên bảo nhiều lần nhưng không được. Từ tháng 10/2020 đến nay, vợ chồng sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh S.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Lê Trần Nhật M, sinh ngày 01/8/2016 và cháu Lê Diệu A, sinh ngày 08/10/2020. Chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, việc cấp dưỡng đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Hiện nay chị L làm nghề giáo viên, thu nhập lương trung bình khoảng 6.000.000đ/tháng.
Về tài sản và công nợ: Chị L không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, anh Lê Văn S trình bày như sau:
Về hôn nhân: Anh và chị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T (nay là thị xã N), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 18/01/2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 8/2021 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không còn tin tưởng nhau, bất đồng quan điểm, chị L thiếu tôn trọng anh, nhiều lần vợ chồng cãi vã, xô xát, chị L còn đánh anh và đập phá đồ đạc trong nhà. Vợ chồng không có tiếng nói chung. Từ năm 2021 chị L mang con về ngoại ở, sau đó đến tháng 5/2023 chị lại quay về nhưng vợ chồng không hạnh phúc nên đã ly thân đến nay, không quan tâm đến nhau. Từ khi ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng lớn, anh biết là khó hàn gắn được nhưng vì thương con nên anh vẫn mong chị L rút đơn về để vợ chồng cố gắng bỏ qua mâu thuẫn, cùng chung sống nuôi dạy con cái.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Lê Trần Nhật M, sinh ngày 01/8/2016 và cháu Lê Diệu A, sinh ngày 08/10/2020. Nếu vợ chồng ly hôn, anh S có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, anh không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Trường hợp nếu anh không được nuôi cả hai con thì anh có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi cháu Lê Diệu A, còn để chị L trực tiếp nuôi cháu Lê Trần Nhật M. Nếu được chấp nhận việc nuôi con như trên thì anh tự nguyện đóng góp nuôi cháu Lê Trần Nhật M mỗi tháng 1.500.000đ cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi. Hiện nay anh làm nghề giám sát thi công, thu nhập ổn định mỗi tháng 14.000.000đ đến 18.000.000đ.
Tại bản tự khai ngày 26/4/2024 cháu Lê Trần Nhật M trình bày nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn cháu xin ở với bố. Bản tự khai ngày 02/5/2024 cháu Lê Trần Nhật M thay đổi ý kiến, trình bày nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn cháu xin ở với mẹ.
Kết quả xác minh tại địa phương:
Chị Trần Thị L và anh Lê Văn S có nhà ở và sinh sống tại tổ dân phố L, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Chị L làm giáo viên tại xã H. Anh S làm công nhân. Quá trình chung sống, nguyên nhân anh chị mâu thuẫn vợ chồng như thế nào thì không báo cáo cáo cho chính quyền địa phương nên chính quyền địa phương không biết, chỉ biết hiện nay anh chị sống ly thân. Anh chị có 02 con chung là Lê Trần Nhật M, sinh ngày 01/8/2016 và cháu Lê Diệu A, sinh ngày 08/10/2020. Hiện nay cả hai cháu đang ở cùng với chị L tại khu tập thể trường tiểu học H.
Tại phiên tòa, chị L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị cho chị được ly hôn anh S. Anh S trình bày nguyện vọng không muốn ly hôn, nhưng nếu chị L cương quyết xin ly hôn thì anh cũng đồng ý ly hôn chị L.
Đại diện VKS phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Quá trình thiết lập hồ sơ vụ án, Thẩm phán, HĐXX và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định tại điều 48,49,51 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại điều 70,71,72 Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Căn cứ các Điều 51,56,57,58,81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278; khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị L, cho chị L được ly hôn anh S; về con chung: Đề nghị giao cháu Lê Trần Nhật M cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Lê Diệu A cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng; anh S tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu M cùng chị L 1.500.000đ/tháng. Về tài sản và công nợ: Anh chị không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét. Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, anh S phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
[2] Xét yêu cầu của chị Trần Thị L:
[2.1] Về hôn nhân:
Chị L và anh S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, thị xã N, Thanh Hóa ngày 18/01/2016 như vậy là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị đều thừa nhận vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tôn trọng nhau, không tin tưởng nhau, nhiều lần cãi vã xô xát tình cảm vợ chồng rạn nứt từ năm 2020, không thể hàn gắn được. Mặc dù anh S không muốn ly hôn nhưng thực tế vợ chồng đã ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau. Tòa án đã nhiều lần tổ chức hòa giải nhưng anh chị không thể hòa hợp. Chứng tỏ hôn nhân giữa anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy việc chị L yêu cầu được ly hôn anh S là có cơ sở, phù hợp với quy định tại các Điều 51,56 của Luật hôn nhân và gia đình và phù hợp với phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[2.2] Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Lê Trần Nhật Mai, sinh ngày 01/8/2016 và Lê Diệu A, sinh ngày 08/10/2020. Nguyện vọng mong muốn được trực tiếp nuôi con của anh chị là chính đáng, anh chị đều có sức khoẻ, có công việc, có thu nhập ổn định và nơi ở đảm bảo việc nuôi dạy con tốt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến đề nghị Tòa án giao cháu Nhật M cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Diệu A cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu Lê Trần Nhật M hiện đang học lớp 2A, trường tiểu học H, chị L hiện cũng đang là giáo viên trường tiểu học H, cháu M đã trên 7 tuổi, ban đầu cháu nói đồng ý với với bố, nhưng sau đó cháu đã thay đổi ý kiến thành có nguyện vọng xin được ở với mẹ nên để đảm bảo ổn định tâm lý cho cháu Nhật M, cần giao cháu Nhật M cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Diệu A cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Việc anh S tự nguyện đóng góp cấp dưỡng nuôi cháu Nhật M cùng chị L mỗi tháng 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) là phù hợp với quy định của pháp luật nên ghi nhận.
[4] Về tài sản và vay nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Anh S phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Khoản 2 Điều 21; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278; khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án; Tiểu mục 1.1, Mục 1, Phần II Danh mục án phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị L.
- Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị L được ly hôn anh Lê Văn S.
- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Lê Trần Nhật M, sinh ngày 01/8/2016 và Lê Diệu A, sinh ngày 08/10/2020. Giao cháu Lê Trần Nhật M cho chị Trần Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; giao cháu Lê Diệu A cho anh Lê Văn S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh S tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L mỗi tháng 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng), thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 05/2024 cho đến khi cháu Lê Trần Nhật M đủ 18 tuổi.
Chị L và anh S được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
- Về tài sản và công nợ: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị L phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ chị đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0012627 ngày 01/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn. Chị L đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm. Anh S phải nộp 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Trần Thị L, bị đơn anh Lê Văn S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,9. Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Huyền |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Lê Thế Hải | Nguyễn Thị Sen | Nguyễn Thanh Huyền |
Bản án số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 37/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hị L và anh S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, thị xã N, Thanh Hóa ngày 18/01/2016 như vậy là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị đều thừa nhận vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tôn trọng nhau, không tin tưởng nhau, nhiều lần cãi vã xô xát tình cảm vợ chồng rạn nứt từ năm 2020, không thể hàn gắn được. Mặc dù anh S không muốn ly hôn nhưng thực tế vợ chồng đã ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau. Tòa án đã nhiều lần tổ chức hòa giải nhưng anh chị không thể hòa hợp. Chứng tỏ hôn nhân giữa anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy việc chị L yêu cầu được ly hôn anh S là có cơ sở, phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình và phù hợp với phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
