|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 37/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23/5/2024
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Minh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Bá Tiến.
2. Bà Nguyễn Thị Bẩy.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Bình - Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Huy Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 69/2024/TLST-HNGĐ ngày 26/3/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/5/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1991. HKTT: Khu phố L, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
Bị đơn: Anh Lê Chung K, sinh năm 1990. HKTT: Khu phố L, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trú tại: Đài Loan.
Các đương sự đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị P trình bày: Qua quá trình tìm hiểu tự nguyện, chị và anh Lê Chung K đã tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn vào ngày 25/04/2012 tại UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung tại khu phố L, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống không thể hòa hợp, vợ chồng đã ly thân được hơn 1 năm. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không đạt được nên đề nghị cho vợ chồng chị được ly hôn.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Huy H, sinh ngày 05/11/2012, hiện cháu đang ở với chị, khi ly hôn chị P xin được nuôi cháu và không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, công nợ: Không có.
Hiện nay, do công việc của chị rất bận không thể xin nghỉ phép được và chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được vì vậy, chị đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải (bao gồm cả phiên hòa giải đối thoại tại Trung tâm hòa giải đối thoại) và đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn là anh Lê Chung K trình bày: Anh xác nhận đã nhận được thông báo thụ lý của của TAND tỉnh Bắc Ninh, anh có ý kiến như sau: Qua quá trình tìm hiểu tự nguyện, anh và chị Nguyễn Thị P đã tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn vào ngày 25/04/2012 tại UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân xác định do bất đồng quan điểm sống không thể hòa hợp, vợ chồng đã ly thân được hơn 1 năm. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, đối với yêu cầu xin ly hôn của chị P thì anh đồng ý.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Huy H, sinh ngày 05/11/2012, hiện cháu đang ở với chị P, khi ly hôn đồng đồng ý để chị P nuôi con, vấn đề cấp dưỡng không yêu cầu Tòa giải quyết.
Tài sản chung, công nợ: Không có.
Hiện nay, do anh đang ở nước ngoài, không thể về Việt Nam và anh K xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được vì vậy, anh đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải (bao gồm cả phiên hòa giải đối thoại tại Trung tâm hòa giải đối thoại) và đề nghị xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa hôm nay các đương sự đều vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Những người tham gia tố tụng chấp hành tốt pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị P, xử cho chị P được ly hôn anh K; Về con chung: Đề nghị giao con chung là cháu Lê Huy H, sinh ngày 05/11/2012 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; vấn đề cấp dưỡng, tài sản chung, công nợ: Không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các bên đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị P có đơn yêu cầu ly hôn với anh Lê Chung K có nơi cư trú tại khu phố L, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Hiện nay anh K đang cư trú, làm việc tại nước Hungary nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt và có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên theo quy định tại khoản 1 Điều 228 BLTTDS Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân: Anh K và chị P có đủ điều kiện kết hôn, khi kết hôn anh chị được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp cần được xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Quá trình chung sống: Vợ chồng sau khi kết hôn sống hạnh phúc thời gian đầu. Nhưng đến nay vợ chồng chị P, anh K phát sinh mâu thuẫn, chủ yếu bất đồng quan điểm trong sinh hoạt, trong công việc làm ăn. Vợ chồng đã sống ly thân thời gian dài. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống cùng nhau được nữa. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị P và anh K đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị P có đơn xin ly hôn, anh K cũng đồng ý nên cần chấp nhận yêu cầu, xử chị P được ly hôn anh K.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng chị P, anh K có 01 con chung là cháu Lê Huy H, sinh ngày 05/11/2012; cháu H hiện đang ở với chị P, cháu có nguyện vọng được ở với chị P. Do đó, để đảm bảo sự phát triển ổn định của cháu, cần tiếp tục giao cháu H cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp. Vấn đề cấp dưỡng các bên đương sự đều không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung, công nợ: Không có, nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Chị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị P: Chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Lê Chung K.
-
Giao cháu Lê Huy H, sinh ngày 05/11/2012 cho chị Nguyễn Thị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Lê Chung K được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Vấn đề cấp dưỡng: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị P đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0000132 ngày 26/3/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Minh |
Bản án số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 37/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị P xin ly hôn anh K
