|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 37/2024/HSST Ngày 23 tháng 4 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- * Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ánh Dương
- * Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Nguyễn Thị Tin.
- 2. Ông Lương Ngọc Biên.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Hoàn - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng.
- - Đại diện VKSND huyện Yên Dũng tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn M – Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang, điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh B, Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2024/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/HSST- QĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
- - Họ và tên: Phạm Văn T, sinh năm 1997; Tên gọi khác: không.
- Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: tổ dân phố M, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- - Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 9/12; Đảng, đoàn thể: không.
- - Họ và tên bố: Phạm Văn L (đã chết);
- - Họ tên mẹ: Nguyễn Thi S, sinh năm 1977
- - Gia đình có 02 anh, em, bị cáo là con thứ nhất.
- - Vợ, con: chưa có
- - Tiền án: Bản án số 198 ngày 22/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Chấp hành xong bản án ngày 23/9/2022.
- - Tiền sự: Quyết định số 268 ngày 28/12/2023 của Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện Y về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại thị trấn đối với Phạm Văn T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- - Nhân thân: Bản án số 41 ngày 02/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xử phạt 09 tháng tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
- - Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến:
- - Anh Lương Phương L1, sinh năm 1992 (Vắng mặt)
- Trú tại: Tổ dân phố C, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- - Anh Lương Văn T1, sinh năm 1965 (Vắng mặt)
- Trú tại: Tổ dân phố K, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bị nghiện chất ma tuý nên Phạm Văn T, sinh năm 1997 ở tổ dân phố M, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang nảy sinh ý định đi mua ma tuý về sử dụng. Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 16/01/2024, T đi bộ từ nhà đến khu vực cầu Y thuộc tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện Y thì gặp một nam thanh niên không quen biết đang đứng ở trên cầu. T đi đến hỏi người này “có ma tuý tổng hợp bán không” thì người này trả lời “Có”, T bảo người này bán cho 350.000 đồng và đưa tiền cho nam thanh niên thì người này cầm tiền rồi đưa cho T 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng đỏ, T cầm gói ma tuý cất giấu vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đi đến đoạn đường thuộc tổ dân phố K, thị trấn N, huyện Y thì bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y bắt quả tang, tang vật thu giữ:
- T2 trong túi quần phía trước bên phải đang mặc trên người Phạm Văn T 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng đỏ nghi là ma tuý tổng hợp nên được niêm phong trong phong bì ký hiệu "QT" (BL 19-21).
Ngày 16/01/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định chất nghi là ma tuý thu giữ của Phạm Văn T.Tại Kết luận giám định số 152/KL-KTHS ngày 18/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Trong 01 phong bì có ký hiệu "QT" đã được niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,266 gam, loại Methamphetamine (BL 23).
Đối với người nam thanh niên bán ma túy cho T, do T không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên cơ quan điều tra không xử lý được.
Về vật chứng vụ án: 01 phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “QT” bên trong còn lại 0,227 gam ma túy Methamphetamine hoàn lại sau giám định được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng để xử lý theo quy định pháp luật.
Bản Cáo trạng số: 36/CT-VKS, ngày 24/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng truy tố Phạm Văn Tiến về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 01 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- * Áp dụng điểm c khoản 01 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T từ 18 tháng đến 20 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024.
- * Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS:
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “QT”, bên trong có ma túy hoàn lại sau giám định (Theo biên bản đóng gói niêm phong ngày 18/1/2024 của Phòng K Công an tỉnh B.
- Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Phạm Văn T nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối cải, đề nghị xử mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Hồi 15 giờ 30 phút ngày 16/01/2024, tại tổ dân phố K, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Phạm Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý với mục đích để sử dụng thì bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y bắt quả tang. Tang vật thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của T 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng đỏ được giám định đều là ma tuý Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,266 gam.
Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Bản tường trình, Bản tự khai và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến cùng tang vật chứng là: 0,266 gam ma túy Methamphetamine và kết quả giám định vật chứng. Như vậy, hành vi trên của bị cáo Phạm Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 01 Điều 249 của BLHS. Bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng và kết luận của Kiểm sát viên truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự công cộng, xâm phạm sự độc quyền quản lý các chất gây nghiện của nhà nước. Vi phạm nghiêm trọng luật phòng chống ma túy. Ma tuý là hiểm hoạ cho đời sống cộng đồng, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác và là nguy cơ lây truyền các bệnh xã hội nguy hiểm như HIV, AIDS. Pháp luật đã nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý. Bị cáo đã tiếp tay cho việc tiêu thụ ma tuý. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo cho việc giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với thời hạn nhất định để bị cáo có điều kiện tu dưỡng rèn luyện bản thân làm người có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.
Bị cáo Phạm Văn T không có tài sản, không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo khoản 5 Điều 249 của BLHS đối với bị cáo.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:
Nhân thân:
- - Tiền sự: Quyết định số 268 ngày 28/12/2023 của Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện Y về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại thị trấn đối với Phạm Văn T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- - Nhân thân: Bản án số 41 ngày 02/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xử phạt 09 tháng tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Chứng tỏ bị cáo có nhân thân xấu.
Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:
- - Tiền án: Bản án số 198 ngày 22/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Chấp hành xong bản án ngày 23/9/2022. Bị cáo chưa được xóa án tích, lần phạm tội này là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS.
Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải. Nên áp dụng tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51của BLHS.
[5] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đưa ra về xử lý vật chứng là phù hợp, có cơ sở chấp nhận. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “QT”, bên trong có ma túy hoàn lại sau giám định (Theo biên bản đóng gói niêm phong ngày 18/1/2024 của Phòng K Công an tỉnh B.
[6] Đối với người nam thanh niên bán ma túy cho T, do T không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên cơ quan điều tra không xử lý được.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
- Căn cứ: Điểm c khoản 01 Điều 249, điểm s khoản 01 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T 01 năm 08 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “QT", bên trong có ma túy hoàn lại sau giám định (Theo biên bản đóng gói niêm phong ngày 18/1/2024 của Phòng K Công an tỉnh B.
(Vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số: 36/QĐ – VKS, ngày 14/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng).
- Áp dụng khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000đồng án phí HSST.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Ánh Dương |
Bản án số 37/2024/HSST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 37/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy
