|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG Bản án số: 37/2024/HS-ST. Ngày 22 - 7 - 2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Ngọc Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hảo và bà Nguyễn Thị Kim Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà:
Bà Đào Thị Hồng Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2024/TLST - HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Văn H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 20/12/1959 tại tỉnh Nam Định.
Nơi cư trú: Số A, TT37, Khu đô thị V, phường P, quận H, thành phố Hà Nội;
Nghề nghiệp: Cán bộ nghỉ hưu - Nguyên Phó Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh T; trình độ văn hóa (học vấn) lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ Đảng, đoàn thể: Là Đảng viên Đảng cộng sản V, đã bị xóa tên trong danh sách đảng viên theo quyết định số 1593-QĐ/TU ngày 21/3/2024 của T10; con ông Lê Văn T và bà Đỗ Thị C (đều đã chết); có vợ Lê Hồng L và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1962;
Địa chỉ: Thôn C, xã L, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, có mặt.
- Anh Đào Trọng H1, sinh năm 1986;
Hiện đang chấp hành án tại Trại giam P – Cục C5, Bộ C6. có mặt.
- Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1978;
Hiện đang chấp hành án tại Trại giam P – Cục C5, Bộ C6. có mặt.
* Người làm chứng:
- Anh Hoàng Hoài N, sinh năm 1981;
Địa chỉ: Số F, Nguyễn Công T1, phố B, phường B, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chi nhánh Công ty cổ phần P1 tại Tuyên Quang, có địa chỉ tại thành phố T (viết tắt là Chi nhánh Công ty P1), do Đào Trọng H1 làm Giám đốc chi nhánh, chỉ được Công ty cổ phần P1, địa chỉ tại thành phố N, tỉnh Ninh Bình (viết tắt là Công ty P1) uỷ quyền cho thực hiện một số hoạt động như: Tư vấn du học, tư vấn giáo dục Nhật Bản; dạy ngoại ngữ, dạy kỹ năng đàm thoại; hoạt động tư vấn đầu tư trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang. Chi nhánh Công ty P1 không được Công ty P1 ủy quyền thực hiện: Tư vấn xuất khẩu lao động, không được ký hợp đồng, thu tiền của khách hàng; không được triển khai chương trình tư vấn du học các nước khác ngoài Nhật bản trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang. Nếu có người đăng ký thì phải chuyển hồ sơ về cho Công ty P1 để hoàn thiện, bố trí xuất cảnh và thu tài chính, rồi trích lại một phần hoa hồng cho Chi nhánh Công ty P1. Ngoài ra, Chi nhánh Công ty P1 cũng không được giao ký hợp đồng, thỏa thuận với cá nhân, tổ chức liên quan về việc đưa người đi lao động ở nước ngoài.
Tuy nhiên, H1 biết được Bộ L3, Thương binh và Xã hội có Chương trình đưa người lao động đi Thực tập Kỹ thuật tại Nhật Bản (Chương trình này không qua đơn vị trung gian; người đăng ký tham gia Chương trình không phải đóng tiền phí, chỉ khi thi đỗ đầu vào và học tiếng Nhật thì mới phải đóng một khoản tiền học phí và tiền thuê ký túc xá là 13.000.000 đồng) nên đã nảy sinh ý định lợi dụng chương trình này để lừa đảo chiếm đoạt tiền của những người trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang có nhu cầu đi xuất khẩu lao động (XKLĐ) tại Nhật Bản. Nên mặc dù không được Công ty P1 ủy quyền, nhưng ngày 23/7/2018 H1 đã tự ý ban hành Văn bản số 01/CV-TC của Chi nhánh Công ty P1, kèm theo hồ sơ của Công ty P1, rồi cùng ông Tống Ngọc K, (là nhân viên của Chi nhánh Công ty P1 từ cuối tháng 5/2018 đến tháng 10/2018 thì nghỉ việc) mang đến Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Tuyên Quang gặp Lê Văn H, Phó Giám đốc Sở (hiện đã nghỉ hưu) đề nghị xem xét tạo điều kiện có văn bản đồng ý cho Chi nhánh Công ty P1 được thực hiện việc tư vấn XKLĐ trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang (Ông K chỉ đi cùng, không được chuẩn bị hồ sơ nên không biết Chi nhánh Công ty P1 không được uỷ quyền tư vấn XKLĐ).
Do không biết mục đích của H1, nên sau khi xem Văn bản số 01/CV-TC và Hồ sơ do H1 mang đến, Lê Văn H đã lấy một mảnh giấy giao việc màu vàng trực tiếp viết nội dung “Nhật Bản; các huyện, thành phố; Phối hợp Trung tâm dịch vụ việc làm” và dán vào Văn bản số 01/CV-TC, rồi đưa lại hồ sơ cho H1 bảo mang đến Phòng Lao động việc làm đưa cho ông Nguyễn Văn D, Trưởng phòng Lao động việc làm của Sở (hiện đã nghỉ hưu) để tham mưu, đề xuất giải quyết. Khi nhận được bộ hồ sơ do Lê Văn H giao, ông D đã đọc nội dung chỉ đạo của H viết trên mảnh giấy giao việc màu vàng và hiểu là H đã đồng ý cho Chi nhánh Công ty P1 được tuyển lao động trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đi XKLĐ ở Nhật Bản. Quá trình nghiên cứu, thẩm định hồ sơ, ông D phát hiện trong hồ sơ không có văn bản ủy quyền của Công ty P1 cho Chi nhánh Công ty P1 được thực hiện hoạt động tư vấn XKLĐ và ông D đã trực tiếp báo cáo với H là hồ sơ của Chi nhánh Công ty P1 chưa đủ điều kiện hoạt động tư vấn XKLĐ. Tuy nhiên, do mong muốn sớm hoàn thành kế hoạch công tác XKLĐ được UBND tỉnh giao cho Sở Lao động, Thương binh và Xã hội (lĩnh vực do H phụ trách), H đã chỉ đạo ông D “đồng ý cho Chi nhánh Công ty P1 làm và nhắc nộp bổ sung giấy uỷ quyền” thực hiện ý kiến chỉ đạo, ông D đã soạn thảo để H ký ban hành Văn bản số 922/SLĐTBXH-LĐVL ngày 23/7/2018 (Văn bản số 922), với nội dung đồng ý để Chi nhánh Công ty P1 được tư vấn, tuyển lao động trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đi làm việc ở Nhật Bản; đề nghị UBND các huyện, thành phố phối hợp, hỗ trợ Chi nhánh Công ty P1 thực hiện hoạt động tư vấn, tuyển người lao động đi làm việc tại Nhật Bản; thời hạn văn bản có hiệu lực từ ngày 23/7/2018 đến ngày 30/6/2019. Sau đó sẽ căn cứ kết quả chất lượng tuyển lao động của công ty, Sở L sẽ xem xét việc gia hạn hoặc không gia hạn hoạt động này của công ty, Văn bản 922 được gửi cho Đào Trọng H1, Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh và Trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh T phối hợp thực hiện.
Sau khi có được Văn bản số 922/SLĐTBXH-LĐVL, H1 đã cùng với Nguyễn Thị H2, nhân viên kinh doanh của Chi nhánh Công ty P1 đã câu kết với Hoàng Lâm T2 lợi dụng Văn bản số 922 và lấy danh nghĩa Chi nhánh Công ty P1 để tổ chức tư vấn về Chương trình Thực tập kỹ thuật Nhật Bản tại nhiều xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang (tổ chức tư vấn 01 buổi tại UBND xã K, thành phố T; 04 buổi tại nhà Văn hoá xã L và xã B, huyện L, tỉnh Tuyên Quang) và đưa ra thông tin gian dối nhằm chiếm đoạt tiền của những người có nhu cầu đăng ký tham gia Chương trình: “Đây là chương trình do Bộ L3, Thương binh và Xã hội tổ chức, phí dịch vụ là 90.000.000 đồng/người; đối với người thuộc diện gia đình chính sách, hộ nghèo, dân tộc ít người sống trong vùng có hoàn cảnh kinh tế khó khăn mức thu phí dịch vụ là 55.000.000 đồng/người; thời gian thực tập là 03 năm, lương mỗi tháng từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; hết thời gian thực tập, người lao động sẽ được hoàn trả bảo hiểm khoảng 80.000.000 đồng và hỗ trợ khởi nghiệp khoảng 120.000.00 đồng. Điều kiện để tham gia Chương trình là phải trong độ tuổi từ 20 đến 30 tuổi, có sức khỏe tốt, không có hình săm, phải có bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông; người đăng ký phải thi đầu vào, kỳ thi đầu vào rất khó nhưng Chi nhánh Công ty P1 bảo đảm cho người tham gia thi đỗ, nếu không thi đỗ hoặc thi đỗ nhưng không đi XKLĐ được, Chi nhánh Công ty sẽ trả lại toàn bộ số tiền đã nộp”. Với phương thức, thủ đoạn trên, trong khoảng thời gian từ ngày 23/7/2018 đến ngày 30/6/2019, H1, H2, T2 đã câu kết lừa 24 người đăng ký tham gia Chương trình và chiếm đoạt tổng số tiền là 1.449.700.000 đồng, trong đó:
- Cuối tháng 7/2018, chiếm đoạt của ông Quan Văn C1 (trú tại Thôn P, xã B, huyện L) 55.000.000 đồng; ông C1 đăng ký cho con gái là chị Quan Thị L1 tham gia Chương trình.
- Cuối tháng 7, đầu tháng 8/2018, chiếm đoạt của anh Triệu Văn Q (trú tại Thôn P, xã P, huyện L) 42.000.000 đồng.
- Đầu tháng 8/2018, chiếm đoạt của chị Quan Thị H3 (trú tại Tổ dân phố N, thị trấn L, huyện L) 55.000.000 đồng.
- Đầu tháng 8/2018, chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị K1 (trú tại Tổ dân phố L, thị trấn L, huyện L) 55.000.000 đồng;
- Đầu tháng 8/2018, chiếm đoạt của chị Phượng Thị L2 (trú tại Đội 1, xã T, huyện L) 55.000.000 đồng.
- Đầu tháng 8/2018, chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị T3 (trú tại Tổ dân phố N, thị trấn L, huyện L) 15.000.000 đồng.
- Đầu tháng 8/2018, chiếm đoạt của chị Ma Thị Á (trú tại Thôn T, xã T, huyện L) 55.000.000 đồng.
- Tháng 9/2018, chiếm đoạt của anh Ngàn Xuân B (trú tại Thôn N, xã T, huyện S) 90.000.000 đồng.
- Ngày 09/10/2018, chiếm đoạt của anh Lý Xuân T4 (trú tại Thôn T, xã N, huyện S) 55.000.000 đồng;
- Đầu tháng 8/2018, chiếm đoạt của anh Hoàng Thông C2 (trú tại Thôn B, xã B, huyện L) 16.700.000 đồng.
- Đầu tháng 8/2018, chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn Đ (trú tại thị trấn L, huyện L) 15.000.000 đồng.
- Đầu tháng 8/2018, chiếm đoạt của anh Nguyễn Thế D1 (trú tại thị trấn L, huyện L) 15.000.000 đồng.
- Tháng 8/2018, chiếm đoạt của anh Quan Văn Q1 (trú tại xã P, huyện L) 55.000.000 đồng.
- Tháng 8/2018, chiếm đoạt của chị Chẩu Thị H4 (trú tại thị trấn L, huyện L) 15.000.000 đồng.
- Ngày 27/8/2018, chiếm đoạt của anh Hoàng Đức H5 (trú tại Tổ dân phố N, thị trấn L, huyện L) 127.000.000 đồng.
- Cuối tháng 8/2018, chiếm đoạt của anh Nguyễn Ngọc T5 (trú tại thị trấn L, huyện L) 50.000.000 đồng.
- Tháng 10/2018, chiếm đoạt của anh Vũ Việt D2 (trú tại Tổ F, phường P, thành phố T) 90.000.000 đồng.
- Tháng 10/2018, chiếm đoạt của anh Hà Văn M (trú tại Thôn Đ, xã C, huyện Y) 90.000.000 đồng.
- Tháng 10/2018, chiếm đoạt của anh Ôn Văn C3 (trú tại Thôn T, xã N, huyện S) 55.000.000 đồng.
- Đầu năm 2019, chiếm đoạt của anh Ma Tuấn T6 (trú tại Thôn B, xã B, huyện C) 100.000.000 đồng.
- Tháng 01/2019, chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn C4 (trú tại Thôn A A, xã T, huyện H) 90.000.000 đồng.
- Đầu năm 2019, chiếm đoạt của chị Đặng Thị T7 (trú tại Thôn K, xã L, huyện S) 100.000.000 đồng.
- Đầu năm 2019, chiếm đoạt của anh Lê Anh Đ1 (trú tại Thôn Y, xã Y, huyện C) 95.000.000 đồng.
- Tháng 6/2019, chiếm đoạt của bà Trần Thị T8 (trú tại Tổ D, phường H, thành phố T) 80.000.000 đồng; bà T8 đăng ký cho cháu là anh Vũ Đức T9 tham gia Chương trình.
Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nêu trên của Đào Trọng H1, Nguyễn Thị H2, Hoàng Lâm T2 đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử và tuyên phạt H1 13 năm tù, H2 14 năm 06 tháng tù, T2 08 năm tù (tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2023-HS-ST ngày 09/3/2023).
Ngoài ra, kể từ khi ký ban hành Văn bản số 922 đến khi văn bản hết hiệu lực ngày 30/6/2019, Lê Văn H đã không yêu cầu Chi nhánh Công ty P1 hoàn thiện hồ sơ (bổ sung văn bản ủy quyền của Công ty P1); không chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát hoạt động của Chi nhánh Công ty P1, nên không phát hiện được việc Đào Trọng H1, Nguyễn Thị H2 và Hoàng Lâm T2 lợi dụng Văn bản số 922 để lừa đảo, dẫn đến hậu quả làm thiệt hại cho 24 người lao động với số tiền 1.449.700.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 342/KL-KTHS ngày 10/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T, kết luận: Chữ ký đứng tên Lê Văn H dưới mục “KT.GIÁM ĐỐC-PHÓ GIÁM ĐỐC” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 với chữ ký đứng tên Lê Văn H trên mẫu so sánh ký hiệu M1 là do cùng một người ký.
Tại Bản Cáo trạng số 35/CT-VKSTQ-P1 ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Lê Văn H về tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng theo khoản 2 Điều 360 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo trình bày: Vì mong muốn sớm hoàn thành kế hoạch mà bị cáo phụ trách về công tác XKLĐ được UBND tỉnh giao cho Sở Lao động, Thương binh và Xã hội nên bị cáo đã chỉ đạo ông D2 để ông D2 đã soạn thảo và bị cáo ký ban hành Văn bản số 922/SLĐTBXH-LĐVL ngày 23/7/2018 đồng ý để Chi nhánh Công ty P1 được tư vấn, tuyển lao động trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đi làm việc ở Nhật Bản và đề nghị UBND các huyện, thành phố phối hợp, hỗ trợ Chi nhánh Công ty P1 thực hiện hoạt động tư vấn, tuyển người lao động đi làm việc tại Nhật Bản
Kết thúc phần tranh luận, Kiểm sát viên trình bày luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội: Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng
- Căn cứ: Khoản 2 Điều 360; điểm s, v khoản 1 Điều 51; Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan yêu cầu bồi thường số tiền bị chiếm đoạt đã được giải quyết trong Bản án số 10/2023/HS-ST ngày 09/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử lưu theo hồ sơ vụ án 01 Văn bản gốc số 922/SLĐTB&XH-LĐVL ngày 23/7/2018 do Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh T cung cấp.
Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lê Văn H không có ý kiến tham gia tranh luận.
Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp kết luận giám định; lời khai của những người tham gia tố tụng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ 23/7/2018 đến 30/6/2019, Lê Văn H, Phó Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh T được Giám đốc sở phân công phụ trách lĩnh vực: Lao Động, tiền lương, việc làm, ký các văn bản của sở thuộc lĩnh vực phụ trách; Bị cáo là người có chức vụ, quyền hạn nhưng thiếu trách nhiệm trong việc thẩm tra các điều kiện, các quy định của pháp luật, đã ký ban hành Văn bản số 922 SLĐTB&XH-LĐVL ngày 23/7/2018 đồng ý cho Chi nhánh công ty P1 tại Tuyên Quang là đơn vị không có tư cách pháp nhân, không được Công ty P1 (Ninh Bình) ủy quyền thực hiện các chức năng tư vấn xuất khẩu lao động, không được ủy quyền ký hợp đồng xuất khẩu lao động với khách hàng, thu tiền của khách hàng, là đơn vị không đủ điều kiện được tư vấn, tuyển lao động trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang. Sau khi ban hành Văn bản số 922, Lê Văn H không chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát hoạt động của Chi nhánh Công ty P1 nên không phát hiện được việc Đào Trọng H1, Nguyễn Thị H2 và Hoàng Lâm T2 lợi dụng Văn bản số 922 để lừa đảo chiếm đoạt của 24 người trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang số tiền 1.449.700.000 đồng.
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo Lê Văn H về tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng theo khoản 2 Điều 360 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại sự hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội; ảnh hưởng đến hoạt động của cán bộ, nhân viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, làm mất uy tín, giảm lòng tin trong nhân dân. Do đó cần phải xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời để phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; bị cáo có nhiều thành tích xuất sắc trong quá trình công tác được các cấp có thẩm quyền tặng thưởng Huân chương Lao động hạng ba, và nhiều bằng khen, giấy khen. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét áp dụng cho bị cáo. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật cần xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đảm bảo nghiêm minh, có tính giáo dục, răn đe, phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tội phạm. Xét thấy có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú ổn định rõ ràng. Xét nhân thân, tính chất mức độ phạm tội, Hội đồng xét xử thấy rằng không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo.
[4] Về mức án Viện kiểm sát đề nghị, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ do bị cáo đã nghỉ hưu.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 văn bản gốc số 922/SLĐTB&XH-LĐVL ngày 23/7/2018 của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh T cung cấp. Xét thấy đây là tài liệu liên quan đến vụ án nên cần được lưu theo Hồ sơ.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[8] Đối với ông Nguyễn Văn D, soạn thảo Văn bản số 922 cho bị cáo Lê Văn H ký ban hành nhưng việc soạn thảo văn bản là làm theo chỉ đạo của Lê Văn H, ông D không chủ động tham mưu, đề xuất bị cáo H ký ban hành Văn bản 922, cũng không biết Đào Trọng H1 và Nguyễn Thị H2 lợi dụng văn bản để thực hiện hành vi phạm tội, không được hưởng lợi gì từ việc này, hành vi của ông D thuộc trường hợp làm theo sự chỉ đạo, đã báo cáo nhưng bị cáo H chỉ đạo làm do vậy tính chất mức độ, hành vi của ông D không đến mức phải xử lý hình sự nên cơ quan điều tra đã đã kiến nghị Sở LĐ, TB và XH tỉnh T xem xét xử lý theo quy định của ngành là phù hợp.
Đối với ông Tống Ngọc K đi cùng Đào Trọng H1 đến Sở Lao động, Thương binh và Xã hội nộp hồ sơ nhưng không biết Chi nhánh Công ty P1 không được uỷ quyền tư vấn xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, không biết mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản của H1, H2 và không được hưởng lợi gì nên không xem xét xử lý.
[9] Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
[10] Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội: “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
- Căn cứ: Khoản 2 Điều 360; điểm s, v khoản 1 Điều 51; Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 22/7/2024.
Giao bị cáo Lê Văn H cho Ủy ban nhân dân phường P, quận H, thành phố Hà Nội nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong thời gian thử thách nếu bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Trong thời gian thử thách của án treo nếu bị cáo Lê Văn H cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Văn H.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 22/7/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ma Ngọc Trung |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trần Văn Hảo – Nguyễn Thị Kim Thanh |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ma Ngọc Trung |
Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG về thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 37/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn H phạm tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng
