Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NÔNG CỐNG

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày 22 - 7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Kỳ Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đức Thuận và bà Bùi Thị Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Danh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Oanh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn Đ, sinh ngày: 11 tháng 11 năm 1985 tại: thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: tiểu khu V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B(đã chết), con bà Trần Thị T, sinh năm 1961, hiện sinh sống tại thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Gia đình có 2 chị em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1987, có 02 con sinh năm 2011 và 2015, cả vợ và con hiện sinh sống tại tiểu khu V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Tiền sự, tiền án: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/10/2023 sau đó chuyển tạm giam. Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Bị cáo tạm giam có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Lê Thu T1, sinh ngày 11 tháng 7 năm 1988 tại thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: T3, TT N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; là phạm nhân chấp hành hình phạt tù giam tại Trại giam S, Bộ C1; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Thế B1 (đã chết); con bà: Lê Thị H1, sinh năm: 1963 hiện sinh sống tại TK L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; gia đình có 3 anh em, bị cáo là con thứ 2; bị cáo có chồng là Hoàng Như B2, sinh năm 1985, hiện đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam T4; Bị cáo có 05 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 12/9/2023 Bị Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy"

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20 tháng 10 năm 2023 đến ngày 25/10/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú, sau đó bị bắt đi chấp hành hình phạt tù tại Trại giam S, Bộ C1.

Ngày 16/6/2024 bị cáo đã chết khi đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam S, Bộ C1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 11 giờ 30 phút ngày 20/10/2023 Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa phối hợp với Công an thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực Tiểu khu N, Thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã phát hiện và bắt quả tang đối với Nguyễn Văn Đ (sinh năm 1985, trú tại tiểu khu V, Thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã thu giữ trên người Nguyễn Văn Đ một gói giấy bạc bên trong có 05 viên nén màu hồng, Đ khai là ma túy. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen trắng, màn hình cảm ứng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ, biển kiểm soát 36R1-1964, niêm phong gói giấy trên trong một phong bì thư có viền nâu đỏ được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Chúc Kim H2, Nguyễn Văn Đ, Đỗ Văn G, Bùi Hữu K và các hình dấu của Công an Thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Phong bì ký hiệu là "M".

Quá trình điều tra Nguyễn Văn Đ khai nhận: khoảng 11 giờ ngày 20/10/2023 trên đường đi làm từ Công ty K1 về thì Đông có nhu cầu muốn sử dụng ma túy nhưng không có tiền, Đ gọi điện thoại cho Phan Văn L (sinh năm 1992, trú tại tiểu khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) hỏi vay số tiền 500.000₫ (Năm trăm nghìn đồng) thì L đồng ý và chuyển tiền qua tài khoản cho Đ. Sau khi nhận được tiền Nguyễn Văn Đ gọi zalo cho Lê Thu T1 (sinh năm 1988, trú tại tiểu khu L, Thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) để hỏi mua 500.000₫ tiền ma túy, T1 đồng ý và yêu cầu Đ chuyển tiền qua số tài khoản 0964667828 của Ngân hàng Q (MB) cũng là số điện thoại của T1. Chuyển tiền xong thì Đ gọi cho T1, T1 nói ma túy được gói vào giấy bạc đang để ở gốc cột điện ở đối diện Siêu thị L2. Khi Đ đi đến gốc cột điện lấy ma túy xong thì bị Tổ công tác thuộc Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa phát hiện bắt quả tang.

Chiều cùng ngày Lê Thu T1 đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tiến hành khám xét nơi ở của Lê Thu T1 ở tiểu khu L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa thu giữ được 01 gói giấy bạc, bên trong có một viên nén màu xanh hình trụ tròn nghi là ma túy. Tiến hành niêm phong gói giấy trên bằng phong bì thư có viền nâu đỏ, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Chúc Kim H2, Đỗ Văn G, Nguyễn Văn L1, Lê Thu T1 và các hình dấu của Công an thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Phong bì ký hiệu là “T” (BL 06).

Ngày 23/10/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa Quyết định trưng cầu giám định số 198/CSĐT giám định loại chất chứa trong phong bì niêm phong ký hiệu là “M” và phong bì ký hiệu “T”.

Tại Kết luận giám định số 3907/KL-KTHS ngày 26/10/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận:

  • - 05 (năm) viên nén màu hồng hình trụ tròn của phong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,472g (không phẩy bốn bảy hai gam) loại: Methamphetamine.
  • - 01 (một) viên nén màu xanh hình trụ tròn của phong bì ký hiệu T gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,088g (không phẩy không tám tám gam) loại: Methamphetamine. (BL 12-15)

Quá trình điều tra, truy tố Nguyễn Văn Đ và Lê Thu T1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của Đ và T1 phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong vụ án. Lê Thu T1 khai nhận nguồn gốc số ma túy đã bán cho Đ là T1 mua 12 viên nén của một người đàn ông lạ mặt ở xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa từ lâu nên không nhớ, T1 đã sử dụng hết 07 viên, còn 05 viên thì Đ bảo bị đau tay nên để lại cho Đ. Đối với nguồn gốc viên ma túy thu được tại nhà T1, T1 thừa nhận là của mình mua sử dụng nhưng mua từ lúc nào thì T1 không nhớ. Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa chưa xác định được người này nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 36R1-1064 mà Nguyễn Văn Đ sử dụng để đi mua ma túy là của chị Phạm Thị H3 (sinh năm 1996, trú tại thôn C, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa), chị H3 xác nhận đã bán chiếc xe mô tô trên cho Đ nhưng xe mô tô không có giấy tờ. Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành tra cứu nguồn gốc chiếc xe, Đăng ký xe mang tên Đặng Quỳnh A (địa chỉ tại số E, T, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa) nhưng hiện nay gia đình chị H3 không có mặt tại địa phương, không liên lạc được với chị H3 nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa tách vật chứng trên để tiếp tục xác minh và xử lý theo quy định của pháp luật.

* Vật chứng vụ án:

  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 36R1-1064 đã được tách vật chứng để xác minh và xử lý.
  • - Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì ký hiệu M, T; 04 (bốn) viên nén màu hồng hình trụ tròn có tổng khối lượng là 0,379g (không phẩy ba bảy chín gam); 0,063g (không phẩy không sáu ba gam) chất bột màu xanh của phong bì ký hiệu T2 Là vật chứng còn lại sau giám định
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu trắng đen;
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20s, màu đỏ;

Tại bản Cáo trạng số: 27/CT-VKSNC ngày 08 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Lê Thu T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ và đề nghị HĐXX áp dụng các quy định của pháp luật và tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ cụ thể như sau:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Nguyễn Văn Đ từ 20(hai mươi) tháng tù đến 24(hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với Lê Thu T1 đã chết và có quyết định đình chỉ của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.

- Về xử lý vật chứng:

+ Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 36R1-1064 mà Nguyễn Văn Đ sử dụng để đi mua ma túy là của chị Phạm Thị H3 (sinh năm 1996, trú tại thôn C, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa), chị H3 xác nhận đã bán chiếc xe mô tô trên cho Đ nhưng xe mô tô không có giấy tờ. Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành tra cứu nguồn gốc chiếc xe, Đăng ký xe mang tên Đặng Quỳnh A (địa chỉ tại số E, T, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa) nhưng hiện nay gia đình chị H3 không có mặt tại địa phương, không liên lạc được với chị H3 nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa tách vật chứng trên để tiếp tục xác minh và xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.

+ Đối với chiếc điện thoại di động thu giữ của Lê Thu T1 và Nguyễn Văn Đ xác định đây là phương tiện phạm tội. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

+ Đối với số tiền 500.000₫ Lê Thu T1 có được do bán ma túy cho Nguyễn Văn Đ xác định đây là tiền do phạm tội mà có. Tuy nhiên tại thời điểm xét xử, Lê Thu T1 đã chết và đã có quyết định đình chỉ vụ án đối với Lê Thu T1, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không tiếp tục xử lý đối với số tiền này.

- Về án phí: Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận với đại diện viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong phạm vi Tòa án xét xử đều hợp pháp.

Đối với Lê Thu T1 có hành vi phạm tội, đã bị khởi tố và truy tố, tuy nhiên trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Lê Thu T1 đã chết và Đình chỉ vụ án đối với Lê Thu T1 là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 282 và khoản 7 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Vào hồi 11 giờ 30 ngày 20/10/2023 Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã phát hiện bắt giữ Nguyễn Văn Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép 05(năm) viên ma túy màu hồng có khối lượng 0,472g(Không phẩy bốn bảy hai gam), loại: Methamphetamine tại địa bàn tiểu khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Số ma túy này, Nguyễn Văn Đ khai mua của Lê Thu T1. Đến chiều cùng ngày, Lê Thu T1 đến Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa đầu thú, khai nhận việc bán ma túy cho Nguyễn Văn Đ. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Thu T1, Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa thu giữ được 1 viên ma túy màu xanh có khối lượng 0,088g(Không phẩy không tám tám gam) loại: Methamphetamine.

Tại phiên tòa, Nguyễn Văn Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Do đó, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai người làm chứng. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

* Đối với hành vi của Lê Thu T1: Sau khi Nguyễn Văn Đ bị bắt, Lê Thu T1 đã ra đầu thú thừa nhận hành vi bán ma túy cho Nguyễn Văn Đ, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Thu T1 đã thu giữ được 1 viên ma túy màu xanh có khối lượng 0,088g(Không phẩy không tám tám gam) loại: Methamphetamine. Quá trình điều tra, Lê Thu T1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thời điểm này, Lê Thu T1 đang mang thai nên Cơ quan CSĐT Công an Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa đã thay đổi biện pháp ngăn chặn nhưng Lê Thu T1 phạm tội trong thời gian chờ thi hành hình phạt tù của bản án khác, vì vậy Cơ quan THAHS Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã bắt đưa đi chấp hành hình phạt tù. Đến ngày 16/6/2024, khi đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam S Bộ C1, Lê Thu T1 đã chết nên Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa đã ra Quyết định đình chỉ vụ án đối với Lê Thu T1. Vì vậy Lê Thu T1 không bị xét xử trong cùng vụ án với Nguyễn Văn Đ.

Đối với việc Lê Thu T1 khai nhận nguồn gốc số ma túy bán cho Nguyễn Văn Đ là mua của một người đàn ông không biết tên ở xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, Cơ quan điều tra không xác định được người này nên tách ra để xác minh điều tra, khi có căn cứ sẽ xử lý bằng vụ án khác.

[3] Tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Ma túy là chất cấm mua bán và sử dụng, những người sử dụng ma túy sẽ mất đi việc kiểm soát hành vi của mình, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng. Cũng vì việc sử dụng ma túy đã làm cho bao nhiêu gia đình tan vỡ và việc sử dụng ma túy cũng đã làm phát sinh rất nhiều loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo là một người nghiện ma túy, đã được các tổ chức đoàn thể giáo dục về tác hại ma túy nhưng bị cáo không thấy được sự nguy hiểm trong việc sử dụng ma túy để từ đó từ bỏ ma túy mà vẫn tiếp tục phạm tội, mua ma túy để sử dụng. Vì vậy, cần phải lên cho bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, cần xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[4] Về nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự, đây là lần phạm tội lần đầu.
  • - Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt: Để tăng cường công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy cần phải áp dụng Điều 38 của Bộ luật hình sự để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung nhưng được xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng. Về hình phạt bổ sung: bị cáo tàng trữ trái phép ma túy không vì mục đích lợi nhuận nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 36R1-1064 mà Nguyễn Văn Đ sử dụng để đi mua ma túy là của chị Phạm Thị H3 (sinh năm 1996, trú tại thôn C, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa), chị H3 xác nhận đã bán chiếc xe mô tô trên cho Đ nhưng xe mô tô không có giấy tờ. Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành tra cứu nguồn gốc chiếc xe, Đăng ký xe mang tên Đặng Quỳnh A (địa chỉ tại số E, T, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa) nhưng hiện nay gia đình chị H3 không có mặt tại địa phương, không liên lạc được với chị H3 nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa tách vật chứng trên để tiếp tục xác minh và xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.

Xác định số ma túy thu giữ của Nguyễn Văn Đ và Lê Thu T1 là hàng hóa nhà nước cấm lưu hành, vì vậy cần tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định là đúng quy định của pháp luật.

Đối với hai chiếc điện thoại thu giữ của Lê Thu T1 và Nguyễn Văn Đ xác định đây là phương tiện phạm tội. Vì vậy cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 500.000₫ Nguyễn Văn Đ trả cho Lê Thu T1 để mua ma túy, xác định đây là tiền do phạm tội mà có, cần truy thu nộp ngân sách nhà nước. Tuy nhiên trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Lê Thu T1 đã chết và có Quyết định đình chỉ Vụ án đối với Lê Thu T1. Vì vậy không xem xét xử lý đối với số tiền trên trong vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo là người có tội, không thuộc trường hợp được miễn án phí. Vì vậy bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Tuyên bố Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 282 và khoản 7 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đình chỉ vụ án đối với Lê Thu T1 thuộc trường hợp “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết”.

  2. Xử phạt Nguyễn Văn Đ 20(Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (20/10/2023).
  3. Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu nộp ngân sách nhà nước một điện thoạ động nhãn hiệu Oppo, màu trắng đen của Nguyễn Văn Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu S1 A20s, màu đỏ của Lê Thu T1

    Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại hoàn mẫu sau giám định.

    Toàn bộ số vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/3/2024 giữa Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.

  4. Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND huyện Nông Cống;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Công an huyện Nông Cống;
  • - Chi cục THADS Nông Cống;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Lưu hồ sơ, lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Kỳ Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGuyễn Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" Lê Thu T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger