|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số 37/2024/HS-ST Ngày 22 tháng 4 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Phan Thùy Trang; ông Nguyễn Văn Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hải, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2024/HSST ngày 29 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
PHẠM MINH GIANG, sinh năm 1994; nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang;
nơi cư trú: Tổ B, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: mua bán; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1967; anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là người thứ nhất; vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1995; con có 02 người, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 04/11/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Phạm Thị Thanh T1, sinh năm 1976; nơi cư trú: Số B, đường số C, khóm P, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang, vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Phạm Minh N, sinh năm 2004; nơi cư trú: Số C, đường T, Tổ B, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
Người làm chứng:
- Lê Thị L, sinh năm 1963; Huỳnh Trung L1, sinh năm 1987; Huỳnh Trọng Hiếu E, sinh năm 2000; Phạm Tuấn H, sinh năm 1988, cùng vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền trả nợ, bị cáo Phạm Minh G nảy sinh ý định cướp giật tài sản. Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 03/11/2023, G đến tiệm sửa xe của Phạm Tuấn H lấy xe mô tô biển số 67E1-510.39 của em ruột là Phạm Minh N, do G mang đi sửa dùm, sau đó bị cáo điều khiển đến đường C, thuộc tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, thì phát hiện bà Phạm Thị Thanh T1 đang điều khiển xe mô tô biển số 67G1-344.42 chạy ngược chiều, trên cổ bà T1 có đeo 01 dây chuyền vàng, liền sau đó, bị cáo G quay đầu xe, điều khiển áp sát giật lấy dây chuyền của T1 nhưng không đứt, làm cả hai xe và người ngã xuống đường, bà T1 tri hô, cùng người dân bắt quả tang G giao cho Cơ quan Công an cùng tang vật của vụ án.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản các số 750, 754/KL-ĐG ngày 09/11/2023 và ngày 27/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận:
- - 01 dây chuyền vàng 16k, trọng lượng 10,290 chỉ, gắn 01 mặt dây chuyền vàng 16k, trọng lượng 2,078 chỉ, kiểu đúc, đính hột trắng, trị giá 45.390.560 đồng.
- - 01 xe mô tô biển số 67G1-344.42 do bị hại Phạm Thị Thanh T1 điều khiển, bị hư hỏng, giá trị thiệt hại 300.000 đồng.
Căn cứ Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 202 ngày 09/11/2023; quyết định khởi tố bị can số 262 ngày 09/11/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đối với Phạm Minh G về tội “Cướp giật tài sản”.
Tại Cáo trạng số 13/CT-VKSCĐ-HS ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố bị cáo Phạm Minh G về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội:
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo G về tội “Cướp giật tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Minh G từ 05 năm đến 06 năm tù, về tội “Cướp giật tài sản”. Về hình phạt bổ sung, do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị không áp dụng đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Đối với 01 dây chuyền vàng 16k, trọng lượng 10,290 chỉ, gắn 01 mặt dây chuyền vàng 16k, trọng lượng 2,078 chỉ, kiểu đúc, đính hột trắng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu xanh - bạc, biển số 67E1-510.39 đã trao trả cho chủ sở hữu nên không đề cập giải quyết.
Đối với 01 áo thun ngắn tay màu đen, hai tay áo có viền màu trắng, bị rách vai áo bên trái; 01 quần tây dài màu đen, bị rách ở vị trí gối bên trái; 01 mũ bảo hiểm màu đỏ có chữ “ĐTDĐ CHÍ LINH” màu trắng không còn giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu tiêu huỷ;
Đối với 01 đĩa DVD ghi âm, ghi hình hỏi cung bị can Phạm Minh Giang đề nghị tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
Trường hợp bị cáo Phạm Minh G khi giật dây chuyền của Phạm Thị Thanh T1, làm T1 và xe ngã xuống đường, T1 bị sây sát nhẹ không yêu cầu giám định, không yêu cầu bồi thường thiệt hại xe bị hư hỏng, Cơ quan điều tra không xem xét là phù hợp.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong vụ án đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quyết định vẫn tiến hành xét xử.
[3] Về hành vi phạm tội
Đối chiếu lời khai nhận hành vi của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong vụ án, các biên bản xác minh, biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập; đồng thời qua điều tra cũng như tại phiên tòa, có căn cứ thể hiện khoảng 18 giờ 45 phút ngày 03/11/2023, G điều khiển xe mô tô biển số 67E1-510.39 có hành vi giật lấy dây chuyền của bà T1 nhưng không thành, G bị bắt quả tang, cơ quan Công an lập biên bản tạm giữ bị cáo G cùng tang vật.
[4] Xét thấy, bị cáo Phạm Minh G là người trưởng thành, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, lẽ ra bị cáo phải lao động tích cực để làm ra của cải vật chất góp phần nuôi sống bản thân, gia đình của bị cáo và giúp ích cho xã hội. Nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà không cần phải lao động, bị cáo dùng thủ đoạn nguy hiểm là sử dụng xe mô tô nhằm cướp giật, chiếm đoạt tài sản của người khác. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo về tội "Cướp giật tài sản" với tình tiết định khung cấu thành tăng nặng "Dùng thủ đoạn nguy hiểm" theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo G là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo nhận thức sâu sắc hơn về hành vi đã thực hiện, đồng thời phát huy tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bản thân thuộc thành phần lao động, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo. Vì vậy, bị cáo đủ điều kiện được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung, xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Trách nhiệm dân sự, bị hại không yêu cầu nên không đề cập xem xét.
[8] Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Về vật chứng trong vụ án là 01 dây chuyền vàng 16k, trọng lượng 10,290 chỉ, gắn 01 mặt dây chuyền vàng 16k, trọng lượng 2,078 chỉ, kiểu đúc, đính hột trắng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu xanh - bạc, biển số 67E1-510.39, đã trao trả cho bị hại xong nên không đề cập giải quyết.
Xét xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu xanh - bạc, biển số 67E1-510.39 là của ông Phạm Minh N, bị cáo G sử dụng làm phương tiện cướp giật tài sản, nhưng ông N không biết, cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu Phạm Minh N là phù hợp.
Đối với 01 áo thun ngắn tay màu đen, hai tay áo viền màu trắng, 01 quần tây dài màu đen; 01 mũ bảo hiểm màu đỏ có chữ “ĐTDĐ CHÍ LINH” màu trắng, là trang phục của Phạm Minh G khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo không yêu cầu nhận lại nên xét tịch thu tiêu huỷ;
Riêng 01 đĩa DVD ghi âm, ghi hình hỏi cung bị cáo Phạm Minh G tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
[9] Trường hợp Bị can Phạm Minh Giang khi giật dây chuyền của Phạm Thị Thanh T1, làm T1 và xe ngã xuống đường, T1 bị sây sát nhẹ từ chối giám định, xe bị hư hỏng nhưng không đáng kể, Cơ quan điều tra không quy kết trách nhiệm đối với G về hành vi này là phù hợp.
[10] Bị cáo Phạm Minh G phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Phạm Minh G phạm tội “Cướp giật tài sản”;
Xử phạt bị cáo Phạm Minh G 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 04/11/2023.
[2] Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD ghi âm, ghi hình hỏi cung bị can Phạm Minh Giang.
Tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng gồm 01 áo thun ngắn tay màu đen, hai tay áo viền màu trắng; 01 quần tây dài màu đen; 01 mũ bảo hiểm màu đỏ có chữ “ĐTDĐ CHÍ LINH” màu trắng;
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
[3] Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Phạm Minh G phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là mười lăm ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Trịnh Thị Ngọc Hà |
Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về hình sự - cướp giật tài sản
- Số bản án: 37/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
