|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI Bản án số: 37/2024/HS-ST Ngày: 22 - 4 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Toại;
Thẩm phán: Bà Lê Thị Mỹ Giang;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Thúy Phượng;
- Ông Phạm Bá Lân;
- Ông Nguyễn Đức Nhơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo Như - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Đỗ Quốc Huy – Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Đinh Tấn C, sinh ngày 08 tháng 6 năm 1996 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: thôn L, xã L, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; Chỗ ở: thôn H, xã L, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: H're; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đinh Văn L; con bà: Đinh Thị Á; vợ: Đinh Thị Đ; có một con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giam tại Trại tam giam – Công an tỉnh Q từ ngày 05/6/2023 đến nay và có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa theo luật định cho bị cáo Đinh Tấn C: Ông Bùi Minh N – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q; địa chỉ: Số A P, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Anh Đinh Thái B, sinh ngày: 19/5/1987; nơi cư trú: thôn H, xã L, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đinh Thái B: Luật sư Trịnh Văn H; địa chỉ: Khu dân cư Đ, thôn C, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; Luật sư trợ giúp pháp lý theo Quyết định về việc cử Luật sư trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng số: 330/QĐ-TGPL ngày 29/6/2023 của Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Q; có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đinh Thị K, sinh năm 1985; nơi cư trú: thôn H, xã L, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
- Anh Đinh Thái S, sinh năm 2004; nơi cư trú: thôn H, xã L, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.
- Chị Đinh Thị Đ, sinh năm 1999; nơi cư trú: thôn H, xã L, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt tại phiên tòa.
- Anh Phạm H1, sinh năm 1994; nơi cư trú: thôn H, xã L, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.
- Chị Đinh Thị K, sinh năm 1985; nơi cư trú: thôn H, xã L, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.
* Người phiên dịch: Ông Phạm Minh Đ1 - Công tác tại Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật tỉnh Q; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 04/6/2023, sau khi đi làm về, bị cáo Đinh Tấn C uống rượu cùng với anh Đinh Thái B, anh Phạm H1 và anh Đinh Thái S (đều cư trú tại thôn H, xã L, huyện M) tại nhà anh Đinh Minh D (ở thôn A, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi). Lúc uống rượu tại nhà anh D, giữa bị cáo C và anh B có cãi nhau nhưng được mọi người can ngăn. Sau khi uống rượu xong tại nhà anh D, bị cáo C cùng với anh B, anh H1 và anh S đi chơi bida tại thôn A, xã L, huyện M. Trong lúc chơi bida, bị cáo C và anh B tiếp tục nảy sinh mâu thuẫn dẫn đến đánh nhau nhưng được anh H1 và anh S can ngăn nên bị cáo C và anh B không đánh nhau nữa. Sau đó, anh H1 chở bị cáo C, anh S chở anh B ra về.
Khi về đến nhà, do còn bực tức với anh B, bị cáo C đi xuống bếp lấy 01 con dao cầm đi ra đường để tìm đánh anh B. Thấy vậy, anh H1 và chị Đinh Thị Đ (vợ của C) đi theo can ngăn bị cáo C. Sau đó, anh S đến cùng can ngăn bị cáo C, đưa
bị cáo C về nhà. Khi về nhà, chị Đinh Thị Đ lấy con dao mà bị cáo C đang cầm mang vào bếp cất. Sau đó, bị cáo C cùng với chị Đ, anh H1 và anh S tiếp tục đứng nói chuyện tại hè nhà, một lúc sau thì anh S ra về.
Sau khi được anh S chở về nhà, anh B nói với chị Đinh Thị K (vợ của anh B) về việc anh B và bị cáo C đánh nhau tại quán bi da, nếu chị K không tin thì đi qua hỏi bị cáo C sẽ rõ, nhưng chị Đinh Thị K không đi vì đêm đã khuya. Anh B nói, nếu chị K không đi thì anh B sẽ đi. Ngay sau đó, anh B điều khiển xe máy đi đến nhà bị cáo C, lúc này khoảng 23 giờ 00 phút ngày 04/6/2023, khi anh B đi xe máy đến thì bị cáo C cùng chị Đ và anh H1 đang đứng nói chuyện tại hè nhà của bị cáo C. Anh B dừng xe ngoài đường, trước cổng nhà bị cáo C, đi vào nhà bị cáo C, đi tới chỗ bị cáo C đứng. Vừa đi, anh B vừa la lối, đòi đánh, đốt nhà bị cáo C và dùng tay tát bị cáo C 01 (một) cái. Thấy vậy, chị Đ và anh H1 can ngăn, chị Đ đẩy anh B ra và nói đi về, nhưng anh B không nghe, đẩy ngã chị Đ rồi tiếp tục xông về phía bị cáo C. Vì bị cáo C nghe anh B lớn tiếng la lối, đòi đánh, đốt nhà và bị tát nên bị cáo C bực tức, chạy vào bếp lấy 01 (một) con dao cầm trên tay phải, chạy ra lại hè nhà, đứng đối diện với anh B đâm anh B 01 (một) nhát theo hướng từ phải qua trái, trúng vào phần hông lưng bên trái của anh B. Anh H1 chạy đến đẩy bị cáo C ra, bị cáo ngã ngồi xuống hè nhà. Cùng lúc đó, bị cáo C rút con dao ra khỏi bụng của anh B thả con dao xuống nền nhà. Chị Đ thấy anh B bị đâm thì hét lớn nên chị K nghe thấy và vội chạy đến, thấy anh B đang sắp ngã nên chị K chạy đến ôm đỡ anh B. Sau đó, anh H1 cùng với chị K đưa anh B đi cấp cứu. Bị cáo C hoảng sợ, ở lại tại nhà. Đến sáng ngày 05/6/2023, bị cáo C đến Công an huyện M đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Kết quả giám định:
Tại Bản giám định thương tích trên hồ sơ bệnh án số 17/GĐHS.23, ngày 08/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Q, kết luận:
“1. Các kết quả chính:
Vết thương #12cm vùng hông lưng trái gây đứt cuống thận + đứt gần lìa thân đuôi tụy đã được phẫu thuật cắt toàn bộ thận trái và niệu quản trái + Cắt thân đuôi tụy + Cắt lách,
Trong mổ được truyền 10 đơn vị hồng cầu khối + 9 đơn vị plasma.
2. Kết luận:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đinh Thái B tại thời điểm giám định là 78% (Bảy mươi tám phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.”
Tại Bản Kết luận giám định số 1149/KL-KTHS, ngày 19/6/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận: Trên con dao và trong chất dịch màu nâu đỏ ghi thu tại vị trí số 01 có máu của Đinh Thái B.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện M, tỉnh Quảng Ngãi thu giữ vật chứng, gồm:
- - Sau khi sự việc xảy ra, Đinh Thị Đ (vợ bị cáo C) nhặt con dao ném ra sau nhà. Sáng hôm sau, chị Đ mang đến Công an huyện M giao nộp 01 (một) con dao dài 36cm; cán dao làm bằng gỗ, hình trụ tròn, dài 12cm, đường kính 2,5cm; lưỡi dao làm bằng kim loại, mũi nhọn, dài 24cm, nơi rộng nhất 04cm.
- - Chất dịch màu nâu đỏ thu tại vị trí số 01 (tại sân nhà nơi tiếp giáp với bậc tam cấp bước lên nhà Đinh Tấn C);
- - Mẫu máu của bị hại Đinh Thái B.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị can Đinh Tấn C đã khắc phục chi phí điều trị thương tích cho Đinh Thái B với số tiền 10.000.000đồng (mười triệu đồng) nộp cho Công an huyện M.
Tại bản Cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 27/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố Đinh Tấn C về tội "Giết người" quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố Đinh Tấn C phạm tội “Giết người”.
Áp dụng: Khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Khoản 3 Điều 57 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Đinh Tấn C từ 7 năm đến 8 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự. Tại phiên tòa, bị hại Đinh Thái B yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí chữa bệnh, chi phí đi lại để khám chữa bệnh, tiền bồi thường tiền công chăm sóc trong thời gian chữa bệnh, tiền công lao động bị mất, tiền tổn thất tinh thần, tiền bồi dưỡng và tiền giảm sút sức khỏe; tổng số tiền là 127.494.525đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền bị hại yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị
Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy tất cả các vật chứng đã thu giữ trong vụ án vì không còn giá trị sử dụng.
Lời bào chữa của ông Bùi Minh N là người bào chữa cho bị cáo Đinh Tấn C tại phiên tòa:
Thống nhất với Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Đinh Tấn C về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đã khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đầu thú; bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị hại cũng có một phần lỗi dẫn đến việc thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo mức án thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát.
Ý kiến bào chữa, tranh luận của bị cáo: Bị cáo thống nhất luận cứ bào chữa của người bào chữa. Ngoài ra, bị cáo không tự bào chữa, tranh luận gì thêm.
Ý kiến của Luật sư Trịnh Văn H, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Đinh Thái B:
Thống nhất với tội danh, mức hình phạt, mức độ lỗi của bị hại; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo và đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại về trách nhiệm dân sự, bị cáo phải bồi thường cho bị hại tổng số tiền 127.494.525đồng.
Ý kiến của bị hại: Thống nhất lời bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Luật sư Trịnh Văn H, không bổ sung gì thêm. Đề nghị xem xét giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo nhanh trở về với vợ, con, trở thành công dân tốt.
Ý kiến tranh luận của những người tham gia tố tụng khác: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa đã thực hiện là hợp pháp.
[1.2] Những tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo Đinh Tấn C khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với phần tóm tắt nội dung vụ án; bị cáo thống nhất với các bản kết luận giám định nêu trên. Lời khai của bị cáo Đinh Tấn C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử sơ thẩm đủ cơ sở kết luận: Vì mâu thuẫn trong khi uống rượu và đánh bi da, bị hại Đinh Thái B điều khiển xe mô tô đi đến nhà của Đinh Tấn C la lối, đòi đánh đập, đốt nhà và dùng tay tát bị cáo Đinh Tấn C 01 (một) cái. Bị cáo C bực tức chạy vào bếp lấy 01 (một) con dao cầm trên tay phải, đứng đối diện với bị hại B và đâm bị hại Bèo 01 (một) nhát theo hướng từ phải qua trái, trúng vào phần hông lưng trái gây đứt cuống thận, đứt gần lìa thân đuôi tụy; tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đinh Thái B là 78% (bảy mươi tám phần trăm).
Tại Bản giám định thương tích trên hồ sơ bệnh án số 17/GĐHS.23 ngày 08/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Q và Bản Kết luận giám định số 1149/KL-KTHS ngày 19/6/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng là phù hợp với hành vi, hung khí sử dụng và hậu quả do Đinh Tấn C gây ra.
[2.2] Bị cáo Đinh Tấn C là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Bị cáo vì bực tức do hành vi trái pháp luật của bị hại nên đã cố ý sử dụng dao là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng hông lưng trái là vùng xung yếu trên cơ thể của bị hại Bèo gây đứt cuống thận, đứt gần lìa thân đuôi tụy của bị hại. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình có thể làm chết người, hậu quả chết người chưa xảy ra là ngoài ý thức chủ quan của bị cáo. Hành vi của bị cáo Đinh Tấn C là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ và đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.3] Xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:
[2.3.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo; sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đầu thú; đã khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại; bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị hại cũng có một phần lỗi dẫn đến việc thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo nên bị cáo
được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[2.3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[2.3.3] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
[2.4] Về xem xét quyết định hình phạt: Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe của người khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương nên áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo. Tuy nhiên, chưa xảy ra hậu quả chết người nên cần áp dụng mức hình phạt đối với trường hợp phạm tội chưa đạt theo quy định tại khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng, tính nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sớm hòa nhập với cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã hội.
[2.5] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, chị Đinh Thị Đ (vợ bị cáo C) đã khắc phục thay cho bị cáo C một phần chi phí điều trị thương tích cho bị hại Đinh Thái B số tiền 10.000.000đồng (mười triệu đồng) và đã nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
Bị hại Đinh Thái B yêu cầu bị cáo Đinh Tấn C bồi thường các khoản thiệt hại gồm: Chi phí tiền thuốc điều trị của bị hại: 2.053.661đồng; chi phí đi lại điều trị, khám bệnh của bị hại: 2.250.000đồng; tiền bồi dưỡng trong quá trình điều trị: 3.693.846đồng; tiền thu nhập bị mất của người chăm sóc (chị Đinh Thị K, vợ bị hại) trong thời gian chữa bệnh 30 ngày X 250.000đồng/ngày, thành tiền: 7.500.000đồng; tiền thu nhập bị mất của bị hại: 13.000.000đồng; tiền tổn thất về tinh thần cho bị hại: 1.800.000đồng X 40 tháng, thành tiền: 72.000.000đồng và tiền phục hồi sức khỏe, chức năng bị giảm sút, với tỷ lệ tổn thương cơ thể 78%, với số tiền: 27.000.000đồng.
Tổng cộng các khoản trên là: 127.497.507đồng, nhưng tại phiên tòa, người bị hại chỉ yêu cầu bồi thường tổng số tiền là 127.494.525đồng (một trăm hai mươi bảy triệu, bốn trăm chín mươi bốn nghìn, năm trăm hai mươi lăm đồng). Bị cáo Đinh Tấn C đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền trên cho bị hại Đinh Thái B.
Xét thấy, sự tự nguyện thỏa thuận số tiền bị cáo phải bồi thường cho bị hại như trên là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định tại các Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật dân sự nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 10.000.000đồng (mười triệu đồng) do chị Đinh Thị Đ (vợ bị cáo C) đã nộp cho Công an huyện M và đang tạm gửi vào tài khoản số:
3949.0.9042812.00000 của Công an huyện M tại Kho bạc nhà nước huyện M, tỉnh Quảng Ngãi để đảm bảo thi hành án cho bị hại Đinh Thái B.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải bồi thường cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[2.5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và áp dụng Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự,
[2.5.1] Tịch thu, tiêu hủy công cụ do Đinh Tấn C trực tiếp sử dụng vào việc phạm tội là 01 con dao dài 36cm; cán dao làm bằng gỗ, hình trụ tròn, dài 12cm, đường kính 2,5cm; lưỡi dao làm bằng kim loại, mũi nhọn, dài 24cm, nơi rộng nhất 04cm.
[2.5.2] Tịch thu, tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: Mẫu chất dịch màu nâu đỏ thu tại vị trí số 01 và phần mẫu máu ghi thu của bị hại Đinh Thái B, sau giám định.
[3] Xét ý kiến tranh luận của người bào chữa cho bị cáo Đinh Tấn C:
Chấp nhận toàn bộ đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Đinh Tấn C về đề nghị áp dụng pháp luật, tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt.
[4] Xét ý kiến tranh luận của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại Đinh Thái B: Chấp nhận ý kiến đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại về tội danh, điều luật áp dụng, trách nhiệm dân sự và mức hình phạt.
[5] Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận một phần.
[6] Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đinh Tấn C được miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo đơn xin miễn án phí ghi ngày 19/4/2024 của bị cáo.
[7] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo, bị hại và người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: Khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Đinh Tấn C phạm tội “Giết người”.
Xử phạt: Đinh Tấn C 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 05/6/2023).
2. Về trách nhiệm dân sự.
2.1. Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật dân sự,
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Đinh Tấn C và bị hại Đinh Thái B như sau: bị cáo Đinh Tấn C có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại sức khỏe cho bị hại Đinh Thái B tổng số tiền là: 127.494.525đồng (một trăm hai mươi bảy triệu, bốn trăm chín mươi bốn nghìn, năm trăm hai mươi lăm đồng).
Tiếp tục tạm giữ số tiền 10.000.000đồng (mười triệu đồng) do chị Đinh Thị Đ (vợ bị cáo C) đã nộp cho Công an huyện M và đang tạm gửi vào tài khoản số: 3949.0.9042812.00000 của Công an huyện M tại Kho bạc nhà nước huyện M, tỉnh Quảng Ngãi để đảm bảo thi hành án cho bị hại Đinh Thái B.
2.2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải bồi thường cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2.3. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau đây: 01 con dao dài 36cm; cán dao làm bằng gỗ, hình trụ tròn, dài 12cm, đường kính 2,5cm; lưỡi dao làm bằng kim loại,
mũi nhọn, dài 24cm, nơi rộng nhất 04cm; Mẫu chất dịch màu nâu đỏ thu tại vị trí số 01 và phần mẫu máu ghi thu của bị hại Đinh Thái B, sau giám định.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/4/2024 giữa Công an tỉnh Q và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi).
4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đinh Tấn C được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo, bị hại và người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 22/4/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Quang Toại |
Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI về vụ án hình sự về tội "giết người"
- Số bản án: 37/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Giết người"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giết người
