Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIỜ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 37/2024/HS-ST.

Ngày: 21-8-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hồ Bạch Long;
  2. Ông Lê Vinh Hiển.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Chuẩn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Quyên – Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXX-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/HSST-QĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn Thành N, sinh ngày 06/9/1979; nơi sinh: tỉnh Đồng Nai; Trú tại: F Tổ B, Ấp A, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: không biết chữ; Con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và con bà Trần Thị H, sinh năm 1957; vợ: Trần Thị T, con: 02 con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2004; anh, chị, em: 03 người, lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất sinh năm 1986.

Tiền án, tiền sự: không có.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Trần Kim M, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1989, nơi sinh: tỉnh An Giang, Nơi đăng ký thường trú: Ấp Đ, xã V, huyện T, tỉnh An Giang, chỗ ở hiện nay: Áp A, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; con ông Trần Văn X (đã chết) và con bà Trần Thị L (đã chết); chồng: không có; con: 01 con, sinh năm 2019; anh, chị, em: 01 người, sinh năm 1977.

Tiền án, tiền sự: không có.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Công ty TNHH X1.

Đại diện pháp luật: Bà Nguyễn Thị B, là Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Tiến T1 – Nhân viên công ty TNHH X1. (Vắng mặt).

Trú tại: B đường T, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Thành NTrần Kim M sinh sống tại ấp A, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Do cả hai người có tình cảm với nhau là người lao động tự do không có nghề nghiệp ổn định, muốn có tiền tiêu xài và nuôi con nhỏ, nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền. Từ ngày 28/01/2024 đến ngày 30/01/2024, Nguyễn Văn T2 Nam 03 lần dùng vỏ lãi chở Trần Kim M đem theo 02 cây kiềm, bao tay vải đến công trình kè đá bờ sông L thuộc ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh do Công ty TNHH X1 thi công trộm lưới kim loại (nắp rọ đá), cụ thể:

Lần thứ 1: khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 28/01/2024, trộm cắp 04 nắp rọ đá. trị giá 1.643.000 đồng.

Lần thứ 2: khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 29/01/2024, trộm cắp 06 nắp rọ đá. trị giá 2.465.000 đồng.

Sau khi trộm cắp được tài sản Nguyễn Văn Thành NTrần Kim M chở về nhà, sau đó đem bán cho ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1974, HKTT: ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai là người thu mua phế liệu dạo được tổng số tiền 1.400.000 đồng. Khi mua tài sản ông Nguyễn Văn D không biết là tài sản do trộm cắp mà có, sau khi mua xong anh Nguyễn Văn D đã bán lại cho người khác.

Lần thứ 3: khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 30/01/2024, khi Nguyễn Văn Thành N tiếp tục chở Trần Kim M đi trộm cắp, khi mới trộm cắp được 04 nắp rọ đá, trị giá 1.643.000 đồng, bỏ lên vỏ lãi định chạy đi thì bị Công an xã T phát hiện mời về trụ sở làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, các bị cáo N, M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 05/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận tổng giá trị tài sản trộm cắp là 5.751.000 (Năm triệu bảy trăm năm mươi mốt ngàn đồng).

Vật chứng thu giữ:

  • + 01 chiếc vỏ lãi dài 5,9m, rộng 0,85m;
  • + 01 cây dầm bằng gỗ để bơi vỏ lãi;
  • + 02 cây kiềm; 03 cái bao tay bằng vải; 01 cặp bao chân bằng vải;
  • + 01 máy xăng hiệu GX225L YOKOHAMA động cơ 7,5HP gắn liền với dây cáp inox dài 2,45m, 01 chân vịt màu vàng đường kính 2,2cm;

Các vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ để phục vụ công tác xét xử và thi hành án.

+ 1.400.00 đồng, Nguyễn Văn Thành NTrần Kim M tự nguyện giao nộp và 04 nắp rọ đá bằng kim loại, bên ngoài bọc nhựa màu xám, dạng lưới, khối lượng 75kg đã trả lại cho đại diện Công ty TNHH X1.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu các bị cáo Nguyễn Văn Thành NTrần Kim M bồi thường thiệt hại.

Tại Cáo trạng số 30/CT-VKS H.CG ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Thành N, Trần Kim M về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo N, M về tội danh theo bản Cáo trạng nêu trên, và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Thành N, Trần Kim M cùng mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách đến 18 tháng.
  • Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu Nguyễn Văn Thành NTrần Kim M bồi thường thiệt hại nên không xem xét.
  • Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đánh giá về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đánh giá về tội danh của các bị cáo:

Vào các ngày 28, 29, 30/01/2024, Nguyễn Văn Thành NTrần Kim M lợi dụng địa hình sông nước ít người qua lại đã lén lút, bí mật trộm cắp 14 nắp rọ đá, tại khu vực công trình kè đá bờ sông L thuộc ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Tài sản qua định giá tổng giá trị thành tiền là 5.571.000 đồng. Hành vi của Nguyễn Văn Thành N, Trần Kim M đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi năm 2017.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Thành N, Trần Kim M phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác trái pháp luật, các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội có đủ khả năng lao động nhưng không tu chí làm ăn lương thiện nuôi sống bản thân mà đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong quản lý tài sản để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội nên cần phải trừng trị nghiêm minh, đúng quy định pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo NM cùng phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo gây thiệt hại không lớn, các bị cáo đã trả lại cho bị hại số tiền từ việc bán tài sản trộm cắp, các bị cáo được bị hại có đơn xin bãi nại nên xem đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo NM nên bị cáo NM được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hội đồng xét xử: Xét thấy các bị cáo nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh khó khăn muốn có tiền tiêu xài lo cho cuộc sống gia đình nên đã nhất thời thực hiện hành vi phạm tội, trong quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi, xét giá trị tài sản trộm cắp của các bị cáo không đáng kể nên Hội đồng xét xử không cần thiết cách ly các bị cáo N, M ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt khác cũng mang tính chất răn đe, giáo dục cho các bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại số tiền 1.400.000 đồng từ việc bán tài sản trộm cắp được và nhận lại 04 nắp rọ đá bằng kim loại, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng: Theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Những vấn đề khác:

Đối với ông Nguyễn Văn D khi mua tài sản không biết do bị cáo NM trộm cắp mà có, nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự là đúng quy định.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Mỗi bị cáo phải nộp án phí là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên xử:

1.1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 58; Điều 65; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Thành N 06 (sáu) tháng tù, về tội “ Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 21/8/2024.

Giao bị cáo Nguyễn Văn Thành N cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn T2 Nam thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

1.2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 58; Điều 65; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Trần Kim M 06 (sáu) tháng tù, về tội “ Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 21/8/2024.

Giao bị cáo Trần Kim M cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Trần Kim M thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung công quỹ đối với: 01 chiếc vỏ lãi dài 5,9m, rộng 0,85m; 01 máy xăng hiệu GX225L YOKOHAMA động cơ 7,5HP gắn liền với dây cáp inox dài 2,45m.

Tịch thu tiêu hủy: 01 cây dầm bằng gỗ để bơi vỏ lãi; 02 cây kiềm; 03 cái bao tay bằng vải; 01 cặp bao chân bằng vải; 01 chân vịt màu vàng đường kính 2,2cm.

Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ theo Quyết định chuyển vật chứng số 25/QĐ-VKS ngày 05/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ.

[3] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Mỗi bị cáo Nguyễn Văn Thành N, Trần Kim M phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Đã giải thích chế định án treo cho các bị cáo).

Nơi nhận :

  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Công an H. Cần Giờ;
  • - VKSND H. Cần Giờ;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - THADS H. Cần Giờ;
  • - UBND xã Phước Khánh, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai;
  • - PV06 CA. TPHCM;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh An Giang
  • - Lưu Vp, hs vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Bích Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (theft of property)

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Theft of property)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Thành N và Trần Kim M bị truy tố về tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger