Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM THÀNH

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày: 21-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Hà.

- Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Việt Phương và ông Phạm Văn Toán.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Quang Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đàm Thị Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Vũ Đình T, sinh năm 1989 tại huyện K, tỉnh Hải Dương.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn B, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Văn C và bà Ninh Thị B; có vợ là Bùi Thị Hồng S và 2 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Bản án số 22/2013/HSST ngày 23/4/2013 của Toà án nhân dân huyện Kim Thành xử phạt Vũ Đình T 45 tháng tù về tội Giao cấu với trẻ em. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/9/2015, xong phần thi hành án dân sự của Bản án ngày 19/6/2013.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/02/2024 đến ngày 23/02/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1984 tại huyện K, tỉnh Hải Dương.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn G, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Ngọc T2 và bà Trần Thị P (đều đã chết); có vợ là Trần Thị L và 2 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/02/2024 đến ngày 23/02/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Anh Trần Tuấn A, anh Phạm Bá H, anh Nguyễn Danh T3 (Đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 21/02/2024, Vũ Đình T đi bộ từ nhà ra đường Quốc lộ 5 rồi đón xe ô tô khách đi đến khu vực đường tàu thuộc huyện A, thành phố Hải Phòng. Tại đây, T gặp và mua của một người đàn ông không rõ tên, địa chỉ 01 gói ma tuý loại Heroine với giá 400.000 đồng, mục đích để sử dụng và nếu có người hỏi mua thì bán kiếm lời. Sau đó, T đi xe ô tô khách về nhà. Tại nhà của mình, T lấy một ít ma tuý trong gói ma tuý vừa mua được sử dụng bằng hình thức hít qua mũi vào cơ thể, số ma tuý còn lại T cất giấu trong phòng ngủ. Khoảng 17 giờ cùng ngày, Nguyễn Ngọc T1 đang ở thôn B, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương thì gặp Nguyễn Bá H1 và Trần Tuấn A. H1 hỏi mua của T1 500.000 đồng ma tuý loại Heroine và T1 đồng ý bán. Lúc này, T1 không có ma tuý nên gọi điện bảo T bán cho T1 500.000 đồng ma tuý loại Heroine để T1 bán lại cho người khác. T đồng ý và bảo T1 chuyển tiền vào số tài khoản 000103544787 của T mở tại Ngân hàng V. T1 nhận 500.000 đồng (01 tờ P1 mệnh giá 500.000 đồng) của H1 và hẹn H1 đến khu vực cầu G thuộc thôn B, xã C lấy ma tuý. Do tài khoản của T1 không có đủ tiền nên T1 đưa 500.000 đồng tiền mặt nêu trên cho anh Nguyễn Danh T3 là chủ một cửa hàng tạp hoá ở gần đó và nhờ anh T3 chuyển tiền từ tài khoản của anh T3 vào tài khoản số 0899504277 của T1 mở tại Ngân hàng M. Sau đó, T1 chuyển 500.000 đồng từ tài khoản của T1 cho T. Sau khi nhận được tiền, T lấy gói ma tuý ở phòng ngủ cho vào vỏ bao thuốc lá Thăng L1 màu vàng rồi cầm theo đi bộ đến chùa M1 thuộc thôn X, xã T, huyện K. Thịnh cất giấu vỏ bao thuốc lá bên trong có gói ma tuý ở dưới phiến đá khắc chữ “Nam mô a di đà phật”. T gọi điện chỉ vị trí cho T1 rồi đi bộ về nhà. Sau khi biết được vị trí ma túy, T1 mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển số 34B2-121.22 của em trai là anh Nguyễn Ngọc S1 đến lấy ma tuý đem về nhà T1. Tại đây, T1 chia gói ma tuý trên thành 03 phần. T1 sử dụng 01 phần bằng hình thức hít qua mũi vào cơ thể, 02 phần còn lại T1 cho vào 02 mảnh giấy có dòng kẻ để bán lại cho H1. Khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày, Thảo cầm theo 02 gói ma tuý nêu trên đi bộ ra khu vực cầu G thuộc thôn B, xã C đưa cho H1. Sau khi mua được ma tuý, H1 đi cùng Tuấn A đến đường thôn B, xã C. Thấy khu vực này vắng người, H1 một mình sử dụng bằng hình thức tiêm chích ma tuý vào cơ thể còn Tuấn A không sử dụng. Hồi 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi H1 vừa sử dụng ma tuý xong thì bị Tổ công tác của Công an huyện K phối hợp với Công an xã C phát hiện, thu giữ trên tay phải H1 đang cầm 01 bơm kim tiêm loại 3ml, bên trong còn bám dính chất lỏng không màu; thu tại vị trí H1 ngồi 02 mảnh giấy có dòng kẻ còn bám dính chất bột màu trắng, 01 vỏ ống thủy tinh đã qua sử dụng. H1 khai nguồn gốc ma tuý H1 sử dụng là do H1 mua của Nguyễn Ngọc T1.

Ngày 21/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Ngọc T1 và khám xét khẩn cấp chỗ ở của T1 ở thôn G, xã C, huyện K, thu giữ của T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone6 gắn sim thuê bao số 0899.504.277. Tại Cơ quan điều tra, T1 khai nguồn gốc ma tuý T1 bán cho H1 là do T1 mua của Vũ Đình T. Cùng ngày, Cơ quan điều tra ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với T và khám xét khẩn cấp chỗ ở của T ở thôn B, xã T, huyện K, thu giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 2020, gắn sim thuê bao số 0383.277.582 (T1 và T khai là điện thoại của bản thân sử dụng liên lạc mua bán ma tuý).

Tại bản Kết luận giám định số 166/KL-KTHS ngày 24/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Chất bột màu trắng bám dính trên 02 mảnh giấy có dòng kẻ, được niêm phong gửi giám định là ma túy loại Heroine, lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng. Quá trình giám định có tìm thấy chất ma tuý, loại Heroine trong mẫu chất lỏng không màu bám dính bên trong bơm kim tiêm nhựa loại 03ml, lượng mẫu chất lỏng không màu dám dính rất nhỏ nên không xác định được thể tích; không tìm thấy chất ma túy trong vỏ ống thủy tinh được niêm phong gửi giám định. Heroine có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất. H2 lại đối tượng giám định gồm: 02 mảnh giấy có dòng kẻ; 01 bơm kim tiêm nhựa loại 03ml đã qua sử dụng; 01 vỏ ống thủy tinh đã qua sử dụng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định trong phong bì niêm phong số 166/KL-KTHS.

Kết quả kiểm tra mẫu nước tiểu ngày 22/02/2024, xác định Vũ Đình T, Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Bá H1 đều dương tính với chất ma tuý loại Heroine; Trần Tuấn A âm tính với các chất ma túy.

Tại Cáo trạng số: 35/CT-VKS ngày 26/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện K, tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo Vũ Đình T và Nguyễn Ngọc T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và xin được hưởng mức án thấp nhất.

Đại diện VKSND huyện Kim Thành giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Vũ Đình T và Nguyễn Ngọc T1 phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử phạt bị cáo T từ 29 tháng tù đến 32 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 22/02/2024.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T1 từ 25 tháng tù đến 28 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 22/02/2024.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: tịch thu và tiêu hủy 02 mảnh giấy có dòng kẻ và 01 vỏ phong bì ký hiệu M1 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định, được niêm phong trong phong bì ký hiệu T1; 01 bơm kim tiêm nhựa loại 3ml bên ngoài in dòng chữ DISCARD AFTER USE, 1 vỏ ống thủy tinh và 01 vỏ phong bì ký hiệu M2 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định, được niêm phong trong phong bì ký hiệu T2. (Phong bì ký hiệu T1, T2 đều niêm phong số 166/KL-KTHS); sim số 0383.277.582, sim số 0899.504.277 lắp theo 2 máy điện thoại.

Tịch thu cho phát mại sung quỹ Nhà nước 1 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, 16G, màu Gold, loại màn hình cảm hứng của bị cáo Nguyễn Ngọc T1, 1 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5 2020, loại màn hình cảm hứng của bị cáo Vũ Đình T. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 500.000 đồng của bị cáo Vũ Đình T.

Về án phí: các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, VKSND huyện Kim Thành, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo Vũ Đình T và bị cáo Nguyễn Ngọc T1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 21/02/2024, tại thôn X, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương, Vũ Đình T có hành vi bán trái phép chất ma túy loại Heroine cho Nguyễn Ngọc T1 với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy của T, T1 lấy một phần ma tuý ra sử dụng, đến khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày, tại thôn B, xã C, huyện K, T1 bán trái phép số ma tuý còn lại nêu trên cho Nguyễn Bá H1 với giá 500.000 đồng.

[3] Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi thực hiện là trái pháp luật nhưng vẫn bán trái phép ma túy, loại Heroine nên hành vi trên của các bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, VKSND huyện Kim Thành truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm và có tính chất nghiêm trọng đối với xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Hiện nay tệ nạn ma tuý không những là hiểm họa của toàn cầu và gây ra nhiều tác hại cho xã hội mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, hành vi trên của các bị cáo phải bị xử lý nghiêm và cần thiết cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên tại quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[4] Ngày 03/3/2024, Công an huyện K đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T, T1 và H1 về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý là phù hợp. Trần Tuấn A đi cùng Nguyễn Bá H1, nhưng không góp tiền, không chuẩn bị công cụ, không sử dụng ma tuý; anh Nguyễn Danh T3 chuyển tiền qua tài khoản giúp T1 và anh Nguyễn Ngọc S1 cho T1 mượn xe nhưng không biết T1 sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không đặt ra việc xử lý. Tài liệu điều tra không xác định được người bán ma túy cho bị cáo T là ai, ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không có căn cứ xử lý.

[5] Về hình phạt bổ sung: các bị cáo không nghề nghiệp, thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về vật chứng: một số dụng cụ sử dụng ma túy, 2 sim điện thoại không còn giá trị sử dụng cần tịch thu và tiêu hủy. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 của bị cáo T1 và điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5 2020 của bị cáo T sử dụng để liên lạc khi bán ma túy là công cụ sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu cho phát mại sung quỹ Nhà nước. Số tiền 500.000 đồng mà bị cáo T1 chuyển khoản cho bị cáo T là tiền do phạm tội mà có, bị cáo T đã chi tiêu hết nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[7] Về án phí: các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, các điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố: các bị cáo Vũ Đình T và Nguyễn Ngọc T1 phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  2. Xử phạt bị cáo Vũ Đình T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 22/02/2024.
  3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T1 28 (hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 22/02/2024.

  4. Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu và tiêu hủy 02 mảnh giấy có dòng kẻ và 01 vỏ phong bì ký hiệu M1 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định, được niêm phòng trong phong bì ký hiệu T1; 01 bơm kim tiêm nhựa loại 3ml bên ngoài in dòng chữ DISCARD AFTER USE, 1 vỏ ống thủy tinh và 01 vỏ phong bì ký hiệu M2 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định, được niêm phong trong phong bì ký hiệu T2. (Phong bì ký hiệu T1, T2 đều niêm phong số 166/KL-KTHS); sim số 0383.277.582, sim số 0899.504.277 lắp theo 2 máy điện thoại.

    Tịch thu cho phát mại sung quỹ Nhà nước 1 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, 16G, màu Gold, loại màn hình cảm hứng của Nguyễn Ngọc T1, 1 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5 2020, loại màn hình cảm hứng của bị cáo Vũ Đình T.

    Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 500.000 đồng của bị cáo Vũ Đình T.

    (Tình trạng cụ thể của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện K và Chi cục THADS huyện K ngày 02/5/2024)

  5. Về án phí: các bị cáo Vũ Đình T và Nguyễn Ngọc T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND huyện Kim Thành;
  • - Cơ quan CSĐT- Công an huyện Kim Thành;
  • - Bộ phận HSNV- Công an huyện Kim Thành;
  • - Phòng HSNV- CA tỉnh Hải Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Kim Thành;
  • - Các bị cáo;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu: Tòa án, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 17 giờ ngày 21/02/2024, tại thôn X, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương, Vũ Đình T có hành vi bán trái phép chất ma túy loại Heroine cho Nguyễn Ngọc Th với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy của T, Th lấy một phần ma tuý ra sử dụng, đến khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày, tại thôn B, xã C, huyện K, Th bán trái phép số ma tuý còn lại nêu trên cho Nguyễn Bá H với giá 500.000 đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger