Hệ thống pháp luật

1

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỚN QUẢN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày: 21 - 5 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Học

Các Hội thẩm nhân dân:1. Bà Trương Thị Ngọc Linh

2. Ông Thượng Quang Minh

- Thư ký phiên tòa:

Ông Nguyễn Hữu Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Hữu Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 21/5/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2024/TLST- HS ngày 09/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST- HS ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản đối với bị cáo:

Dương Văn S, sinh năm 1989 tại Bình Phước.

Tên gọi khác: B; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Làm thuê.

Nơi cư trú: Tổ G, ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

Cha: Dương Mạnh H, sinh năm: 1960 (đã chết), Mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1961. Bị cáo sống chung như vợ chồng với Lê Thị Kim C, sinh năm 1991; Bị cáo có 01 con là Lê Thị Kim N, sinh năm 2021; Bị cáo có chị ruột là Nguyễn Thị N1, sinh năm 1984.

Tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 26/12/2023, có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy bị Cơ quan CSĐT Công an huyện H ra Quyết định khởi tố bị can. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 26/12/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên S mượn xe mô tô của Lê Xuân D (không nói cho D biết mục đích mượn xe) rồi một mình điều khiển xe mô tô đi đến khu vực lô cao su thuộc xã T, huyện H giáp ranh xã M, thị xã C. Tại đây S tìm gặp người thanh niên tên T1 để mua 01 gói ma tuý với giá 600.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, S cầm gói ma tuý trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe đi về. Khi S đi đến khu vực đường nhựa ĐT756 thuộc tổ A, ấp H, xã T, huyện H thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện và bắt quả tang thu giữ gói ma tuý S đang cầm trong tay.

Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, Dương Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Căn cứ Kết luận giám định số 1296/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Chất tinh thể màu trắng có trong 01 gói nylon hàn kín được niêm phong (ký hiệu M) gửi giám định là Ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 1,2213 gam.

- Về vật chứng của vụ án: Thu giữ 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, đã được niêm phong theo quy định; Xe môtô biển số 93N1-8350, hiệu Wave màu đen, số máy: HC12E1274548, số khung: RLHHC1219Y073614; Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150, màu xanh đen, sô IMEL 1: 351858833538594.

Tại phiên toà:

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố bảo vệ quan điểm của bản cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 08/4/2024, căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Dương Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Văn S mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

3

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát đề nghị lý vật chứng như sau:

  • - Xe môtô biển số 93N1-8350, hiệu Wave màu đen, số máy: HC12E1274548, số khung: RLHHC1219Y073614. Quá trình điều tra xác định xe môtô trên do anh Lê Xuân D, sinh năm: 1988, Nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã T, huyện H là chủ sở hữu, D không biết S sử dụng xe để đi mua ma túy. Căn cứ điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe môtô trên cho Lê Xuân D là đúng quy định nên không đề cập xử lý.
  • - 01 gói ma túy có trọng lượng còn lại sau giám định là 1,126 gam loại Methamphetamine đã được niêm phòng là chất cấm tàng trữ, lưu hành. Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy theo quy định.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150, màu xanh đen, số IMEL 1: 351858833538594 là tài sản của bị cáo, bị cáo không sử dụng làm công cụ phạm tội, không phải vật chứng vụ án. Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị trả lại cho bị cáo Dương Văn S theo quy định.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng.

[2] Tại phiên toà, bị cáo Dương Văn S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên ngày 26/12/2023 Dương Văn S đã mua một gói ma túy có trọng lượng 1,2213 gam rồi cất giấu trong người để sử dụng thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện và bắt quả tang thu giữ gói ma tuý S đang cầm trong tay.

[3] Xét thấy, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định số ma túy thu giữ được của bị

4

cáo. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hành vi mua ma túy cất giấu trong người để sử dụng có khối lượng 1,2213 gam loại Methamphetamine của bị cáo Dương Văn S đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 08/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố bị cáo Dương Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các loại chất gây nghiện, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, đồng thời là mầm mống của các tệ nạn xã hội khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo biết rõ việc tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn như cầu sử dụng của bản thân mà bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý, cho thấy bị cáo là người coi thường pháp luật nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5]. Đối với người tên T1 bán ma túy cho S, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch cụ thể nên đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh đẻ xử lý theo quy định.

[6] Xử lý vật chứng vụ án:

Đề nghị xử lý vật chứng của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhân.

[7] Về án phí: Bị cáo S phải chịu theo luật định.

[8] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh và hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

5

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Dương Văn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Dương Văn S mức án 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian tính tù từ ngày 26/12/2023.

Tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3. Về vật chứng vụ án:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

  • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói ma túy có trọng lượng còn lại sau giám định là 1,126 gam loại Methamphetamine đã được niêm phòng.
  • - Trả lại cho bị cáo Dương Văn S: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150, màu xanh đen, số IMEL 1: 351858833538594 là tài sản của bị cáo.

(Các vật chứng được mô tả và đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản theo Biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản số 0005978 ngày 10/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.)

4. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Bị cáo Dương Văn S phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận :

- TAND tỉnh Bình Phước;

- VKSND huyện Hớn Quản;

- VKSND tỉnh Bình Phước;

- Bị cáo và đương sự;

- Bộ phận HSNV CA Hớn Quản;

- Phòng HSNC CA tỉnh Bình Phước;

- Chi cục THADS huyện Hớn Quản;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đình Học

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ok
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger