|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 37/2024/HS-ST |
|
|
Ngày: 10/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Ngô Công Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Kim Sơn
2. Ông Nguyễn Xuân Ký
Thư ký phiên toà: Ông Lê Quang Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Lê Hồng Ngoạn - Kiểm sát viên.
Ngày 03; 05 và 10 tháng 12 năm 2024, tại Toà án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Trần Duy H (tên gọi khác: Không) - sinh ngày: 17/9/1982, tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: làng Y, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Duy Đ (đã chết) và bà: Võ Thị T, sinh năm 1959; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Họ và tên vợ: Lê Thị D, sinh năm: 1982; Bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2021, con nhỏ nhất sinh năm 2023.
Tiền sự: Không; Tiền án: 03 lần. (1) Bản án số 02/2009/HSST ngày 16/01/2009 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt Trần Duy H 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/4/2010; chưa thi hành các khoản: án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng, phạt bổ sung 5.000.000 đồng, truy thu xung quy Nhà nước 6.500.000 đồng. (2) Bản án số 18/2011/HSST ngày 24/6/2011 của Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An xử phạt Trần Duy H 11 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2019. Đã thi hành 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.560.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chưa thi hành khoản bồi thường dân sự số tiền 71.200.000 đồng cho chị Trần Thị Y trú tại xóm P, xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ An. (3) Bản án số 49/2021/HSST ngày 29/7/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An xử phạt Trần Duy H 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/9/2022. Đã thi hành 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm ngày 29/7/2021.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện N cho đến nay (Có mặt);
2. Hoàng Văn T1 (tên gọi khác: Ba Lĩnh) - sinh ngày: 09/11/1976, tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: làng C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Thổ; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn H2 (đã chết) và bà Trương Thị H3, sinh năm: 1954. Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Họ và tên vợ: Phan Thị Thu H4, sinh năm 1980 (đã ly hôn). Bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2014.
Tiền sự: Không; Tiền án: 06. (1) Bản án số 15/2003/HSST ngày 24/3/2003 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt Hoàng Văn T1 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/3/2003, đã thi thành án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng ngày 23/4/2005. (2) Bản án số 36/2005/HSST ngày 20/7/2005 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt Hoàng Văn T1 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/8/2006, đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 285.000 đồng ngày 16/8/2013. Phần bồi thường dân sự là 7.000.000 đồng, đã thi hành được 1.300.000 đồng, còn lại 5.700.000 đồng đến nay Chi cục thi hành án chưa nhận được đơn yêu cầu của người được thi hành án. (3) Bản án số 23/2009/HSST ngày 24/4/2009 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt Hoàng Văn T1 18 tháng tù về tội “Đánh bạc”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/7/2010, đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng ngày 12/9/2012. (4) Bản án số 47/2010/HSST ngày 29/10/2010 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An và bản án hình sự phúc thẩm số 09/2011/HSPT ngày 21/01/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xử phạt Hoàng Văn T1 33 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/12/2012, đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng ngày 04/7/2012. (5) Bản án số 10/2014/HSST ngày 27/3/2014 của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An và bản án hình sự phúc thẩm số 100/2014/HSPT ngày 21/01/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xử phạt Hoàng Văn T1 3 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/6/2017, đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng ngày 29/10/2014. Chưa thi hành phần bồi thường 6.000.000 đồng cho ông Nguyễn Duy M ở xóm C, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An. (6) Bản án số 15/2020/HSST ngày 22/4/2014 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An, xử phạt Hoàng Văn T1 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/6/2022, đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng ngày 14/7/202020.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, sau đó điều chuyển đến Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Thanh Hóa cho đến nay (Có mặt).
3. Phan Minh Đ1 (Tên gọi khác: Không) - sinh ngày: 26/8/1996, tại thị xã T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: K, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Chí T2, sinh năm: 1971 và bà Phạm Thị K, sinh năm: 1972. Gia đình có 01 chị em, bị cáo là con thứ ba; Họ và tên vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1998. Bị cáo có 01 con sinh năm 2017.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Về nhân thân: Năm 2013 bị công an phường Q, thị xã T xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi đánh nhau. Đã thi hành xong quyết định xử phạt ngày 05/3/2014.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2023 đến ngày 22/3/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh và cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt)
4. Phan Chí T2 (Tên gọi khác: Không) - sinh ngày: 10/02/1971, tại thị xã T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: K, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn V (đã chết) và bà Hồ Thị T3, sinh năm: 1949. Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ đầu; Họ và tên vợ: Phạm Thị K, sinh năm 1972. Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 1996.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Về nhân thân: Năm 2018 bị công an phường Q, thị xã T xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi: sử dụng pháo nổ trái phép. Đã thi hành xong quyết định xử phạt ngày 04/4/2018.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2023 đến ngày 02/02/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh và C đi khỏi nơi cưa trú (có mặt).
- Bị hại: Anh Hà Văn C1 – Sinh năm: 1984. (Vắng mặt có đơn)
Địa chỉ: Thôn G, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa;
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Duy H: Bà Lê Thị Xuân P – Luật sư của Công ty L1 – Chi nhánh Đ3. (Có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chị Lê Thị D, sinh năm: 1982
Trú tại: làng Y, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đêm 20/12/2023, Phan Minh Đ1 nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên đã sử dụng điện thoại số 0961.100.xxx gọi đến số 0965 420 650 của Trần Duy H, nói với H: “Hôm nay rảnh có đi mần tỷ không” (Nghĩa là Đ1 rủ H đi trộm cắp tài sản), H trả lời: “Tỷ lên lán rồi đi, anh đang bế con”. Sau khi nghe điện thoại của Đ1 gọi đến, H gọi điện thoại rủ T1 đi cùng, T1 đồng ý bảo H đến đón. Khoảng 30 phút sau, Đ1 gọi lại cho H thì H bảo “Cứ lên lán đi, anh đi đón Ba L rồi anh qua” (Ba L tên thật là Hoàng Văn T1). Đến khoảng 22 giờ 30 phút H gọi lại cho Đ1 bảo “Lên đi anh đang ở lán”. Đ1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37 H1-600.62 từ nhà đi đến lán trang trại của gia đình Phan Chí T2 là bố đẻ của Đ1 (ở khối Q, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An); tới nơi gặp Trần Duy H và Hoàng Văn T1 đang ở lán. Ba người sử dụng xe ô tô tải (loại xe tải nhỏ, thùng có bạt che) biển kiểm soát 37C-380.66 do Trần Duy H điều khiển đi theo đường H để sang N, Thanh Hóa; trên đường đi H nói “Bên Thanh Hóa có con trâu đẹp mà vắng nhà dân, anh em ta sang đó nếu còn thì bắt”. Khi đến địa phận thôn G, xã X, huyện N (đoạn đường gần khu công nghiệp) H dừng xe, quay đầu ngược lại theo hướng Thanh Hóa đi Nghệ An để cho Đ1 và T1 xuống xe đi trộm cắp trâu. Còn một mình H quan sát, tìm được một địa điểm phía bên phải theo hướng từ Thanh Hóa đi Nghệ An, cách đường H khoảng 20 mét. Vị trí cỏ và cây keo mọc um tùm, che khuất tầm nhìn, không có người qua lại. H lùi xe vào đường mòn tìm nơi có gò đất cao, ghé sát thùng xe để chuẩn bị đưa trâu lên thùng thuận lợi.
Sau khi xuống xe T1 và Đ1 đi tắt qua khu đất trống (Gần khu công nghiệp, không có nhà dân sinh sống), đến nhà anh Hà Văn C1 ở thôn G, xã X, huyện N, rồi lẻn vào khu vực phía sau nhà quan sát phát hiện trong chuồng trâu của gia đình anh C1 không có cửa và then cài; có 01 con trâu mẹ đang được cột cố định và 01 trâu con còn nhỏ được thả tự do. T1 đi vào mở dây thừng, nhét dẻ vào chiếc chuông sắt đeo ở cổ trâu mẹ để tránh tiếng kêu rồi dắt trâu ra khỏi chuồng, Đ1 đi theo sau hỗ trợ đuổi trâu, cả hai dẫn trâu ra theo lối cũ, qua bãi đất trống rồi đi vào vườn keo phía bên phải dọc theo đường H theo hướng từ Thanh Hóa đi Nghệ An. Khi dẫn trâu mẹ đi thì con trâu con được thả tự do cũng đi theo trâu mẹ. Trên đường dắt con trâu vừa trộm cắp đi ra Đ1 và T1 sử dụng điện thoại của Đ1 gọi cho H để xác định vị trí H đang dừng xe; khi Đ1 và T1 đưa trâu tới nơi xe đang chờ, H ra mở cửa sau thùng xe rồi nhảy lên thùng, T1 đưa đầu dây thừng cho H kéo dắt trâu lên, còn T1 và Đ1 ở đằng sau đuổi trâu lên Thùng. Khi này trâu con không thấy mẹ nên chạy ngược lại trở về nhà. H tiếp tục điều khiển xe ô tô cùng với T1 và Đ1 chở con trâu vừa trộm cắp được quay về. Tuy nhiên, H không đi theo đường cũ (Đường H) mà rẽ vào đường đi xóm L, xã N, qua xã N, huyện N để trở về lán trang trại, là tuyến đường xa hơn, nhỏ, khó đi, có ít người và phương tiện qua lại.
Khoảng 03 giờ 45 phút ngày 21/12/2023, khi về gần đến Trang trại, thì H gọi điện thoại từ số thuê bao 0357 137 450 (là điện thoại của T1 để trong Ca bin xe ô tô của H điều khiển) vào số thuê bao 0971 262 367 của Phan Chí T2 nói: “Anh lên lán mở cửa cho em gửi con hàng”, T2 đồng ý và đi lên lán trại. Đến 04 giờ 02 phút, H tiếp tục gọi điện lại cho T2, để xác định T2 đã lên mở cửa lán hay chưa, T2 trả lời “Đang ở lán rồi”. Khi xe ô tô do H điều khiển về đến lán thì T2 ra mở cửa (Loại cửa làm bằng thép cuộn B40 bao quanh sân lán trang trại) để cho H lái xe vào trong sân; Dừng xe, H ra phía sau mở cửa thùng sau xe ô tô tải, rồi lên thùng dắt 01 con trâu cái mầu đen từ trên thùng xe xuống mang đến buộc vào cột bê tông ở giữa sân rồi H nói với T2: “Cho em gửi ít hôm, hôm nay lấy được muộn nên không dám đi xa” T2 hỏi “Trâu trộm mô đó” (Nghĩa là trâu trộm ở đâu đấy) thì H trả lời “ở Thanh hóa, xa nên anh không phải lo” rồi H hỏi T2 có mua không, thì T2 hỏi lại giá bao nhiêu; H đáp giá là hai mươi triệu đồng, T2 nói “Trâu trộm hai mươi triệu đắt quá, không mua”, lúc này T1 nói: “Bán cho anh mười tám triệu” thì T2 đồng ý mua. nhưng do không đem theo tiền nên T2 hẹn đến ngày hôm sau sẽ thanh toán.
Đến khoảng 21 giờ ngày 21/12/2023 tại lán trang trại, T2 đưa cho H 18.000.000 đồng để thanh toán tiến mua trâu. Nhận được tiền, H đưa cho T1 đếm lại. Sau khi đếm đủ tiền thì T1 chia tiền đưa cho H 1.000.000 đồng là tiền xăng xe, còn lại 17.000.000 đồng, T1 chia đều cho ba người gồm: H, T1 và Đ1 mỗi người được 5.600.000 đồng, còn thừa 200.000 đồng, T1 đưa cho T2 nói là cho anh mua sữa. Sau đó các bị cáo ra về. Đến ngày 24/12/2023 thì bị phát hiện, nên T2 và Đ1 đã đến Công an huyện N xin đầu thú giao nộp vật chứng, khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội của các bị cáo.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 23/KL-ĐGTS ngày 26/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện N kết luận: 01 trâu cái 03 tuổi, mầu đen, nặng 360 kg trị giá: 21.000.000 đồng.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- Thu giữ dữ liệu điện tử (04 Đoạn video lưu trong 01 USB) gồm: 01 đoạn video có độ dài 02 phút ghi lại hình ảnh 01 xe tải loại nhỏ, có hai đèn chiếu sáng phía trước và hai đèn bên hông thùng xe, xuất hiện tại khu vực hiện trường tại thời điểm xẩy ra vụ án theo hướng B đi X. Sau đó quay đầu khi chưa đến cổng chào thôn G, xã X, huyện N; 01 đoạn video có độ dài 01 giờ ghi lại hình ảnh 01 xe ô tô tải loại nhỏ, có bạt che nóc thùng đi qua camera ở thôn Đ vào khu vực hiện trường xảy ra vụ án theo hướng Bãi T4 đi H, Như X; 01 đoạn video có độ dài 02 phút ghi lại hình ảnh 01 xe ô tô tải loại nhỏ, có bạt che nóc thùng đi qua camera ở thôn Đ (từ khu vực hiện trường vụ án đi ra) theo hướng Hoá Quỳ đi Bãi Trành; 01 đoạn video có độ dài 01 giờ ghi lại hình ảnh 01 xe ô tô tải loại nhỏ, có hai đèn chiếu sáng phía trước và hai đèn bên hông thùng xe, bên trên nóc thùng có phủ bạt che tối màu bên trên đầu xe có dán logo màu đỏ đi qua camera an ninh của Công an xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
Kết luận giám định số 2036/KL-KTHS ngày 27/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 04 tệp video của 01 USB gửi giám định.
04 đoạn video nêu trên được trích xuất từ các Camera an ninh được lưu trong USB nhãn hiệu Toshiba dung lượng 04GB bằng kim loại màu bạc mặt sau có dòng chữ “TransMemory” đựng trong phong bì được niêm phong đúng quy định chuyển theo hồ sơ vụ án.
- Thu giữ và xử lý vật chứng có liên quan trong vụ án:
1. Phan Chí T2: 01 con trâu cái, màu đen tài sản là vật chứng của vụ án. (Quá trình điều tra xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Hà Văn C1); 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA loại Model TA-1174, màu đen, tình trạng cũ, gắn 02 thẻ sim số: 0971.262.367 và 0984.984.972 (riêng thẻ sim 0984.984.972 Cơ quan điều tra xác định không liên quan đến vụ án nên đã trả lại cho Phan Chí T2).
2. Phan Minh Đ1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone loại 12 Pro Max, màu xanh, gắn thẻ sim số 0355.921.996, tình trạng cũ. (Quá trình điều tra xác định không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho Phan Minh Đ1); 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại 105, màu xanh, gắn thẻ sim số 0961.100.967 tình trạng cũ ( Đ1 sử dụng để liên lạc với các bị can để thực hiện hành vi phạm tội và bỏ quên trên hộc cửa bên phụ của xe ô tô tải).
3. Trần Duy H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại A9, màu xanh, gắn thẻ sim số 0988.718.377, tình trạng cũ, kính cường lực vỡ, nứt; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, Model TA-1174 màu xanh đen, tình trạng cũ, gắn thẻ sim số 0965.420.650; 01 xe ô tô tải, nhãn hiệu KIA, màu xanh, BKS 37C-380.66, đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 128768 mang tên Nguyễn Hữu H5; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô tải 37C-380.66 mang tên Nguyễn Hữu H5.
4. Hoàng Văn T1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA loại Model TA-1174 màu xanh đen, tình trạng cũ, gắn thẻ sim số 0357.137.450.
Vật chứng của vụ án được chuyển đến kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Như Xuân để sử lý theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi được nhận lại tài sản là con trâu cái màu đen, người bị hại Hà Văn C1 xác định thiệt hại 2.000.000 đồng là khoản tiền chi phí nhờ người đi tìm kiếm con trâu bị trộm cắp, nên yêu cầu các bị cáo phải bồi thường. Ngày 23/5/2024 các bị cáo Phan Chí T2 và Phan Minh Đ1 đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường đủ số tiền theo yêu cầu của bị hại, nên bị hại không yêu cầu gì thêm.
Tại Bản cáo trạng số 23/CT-VKSNX ngày 12/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố các bị cáo Trần Duy H, Hoàng Văn T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo Phan Minh Đ1 về tội trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phan Chí T2 về tội “Tiêu thụ tái sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự .
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân, vai trò của các bị cáo, kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 17, Điều 38, Điều 58; Bộ luật hình sự; đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Trần Duy H, Hoàng Văn T1, về tội: Trộm cắp tài sản. Xử phạt mỗi bị cáo từ 28 tháng đến 34 tháng tù.
Các bị cáo là người lao động tự do không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 & khoản 2 Điều 51, Điều 17 Điều 58, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Phan Minh Đ1 phạm tội: Trộm cắp tài sản. Xử phạt bị cáo từ 14 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 28 đến 36 tháng.
Do bị cáo là người lao động phổ thông không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Căn cứ khoản 1 Điều 323, điểm b, i, s khoản 1 & khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Phan Chí T2 phạm tội: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
Do bị cáo là người lao động phổ thông không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Xử lý vật chứng: Căn cứ điều 106 Bộ luật TTHS; Điều 47 Bộ luật hình sự đề nghị HĐXX: Tuyên tịch thu xung công quỹ Nhà nước gồm:
01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA loại Model TA-1174, màu đen, tình trạng cũ (của Phan Chí T2); 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại 105, màu xanh, tình trạng cũ (của Phan Minh Đ1); 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, Model TA-1174 màu xanh đen, tình trạng cũ Trần Duy H ); 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA loại Model TA-1174 màu xanh đen, tình trạng cũ (Hoàng Văn T1).
Truy thu đối với bị cáo Trần Duy H số tiền: 6.600.000 đồng; bị cáo Hoàng Văn T1 số tiền 5.600.000 đồng; bị cáo Phan Minh Đ1 số tiền 5.600.000 đồng; bị cáo Phan Chí T2 200.000 đồng, là tiền do các bị cáo mua bán tài sản trộm cắp mà có.
Tịch thu tiêu hủy: thẻ sim số: 0971.262.367 của B; thẻ sim số 0961.100.996 của B1; thẻ sim số 0965.420.650 của BC H; thẻ sim số 0357.137.450 của BC T1 sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng.
Đối với 01 xe ô tô tải, nhãn hiệu KIA, màu xanh, BKS 37C-380.66, đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 128768 mang tên Nguyễn Hữu H5; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô tải 37C-380.66 mang tên Nguyễn Hữu H5. Là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
Tuy nhiên xét thấy đây là tài sản chung của vợ chồng bị cáo H (do vợ bị cáo đứng ra vay tiền từ nguồn vốn tái hòa nhập cộng đồng) góp 75.000.000 đồng, chung với vợ chồng anh Hoàng Thanh H6 (là em rể của bị cáo). Nếu tịch thu xung công quỹ Nhà nước đối với phương tiên nêu trên, gây ảnh hưởng nghiêm trong đến đời sống sinh hoạt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Mặt khác khi xử dụng phương tiện vào mục đích phạm tội các đồng sở hữu khác không biết; do vây đề nghị HĐXX xem xét trả lại cho chủ sở hữu.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại A9, màu xanh, gắn thẻ sim số 0988.718.377, tình trạng cũ, kính cường lực vỡ, nứt, không liên quan đến vụ án nên đề nghị trả lại cho Trần Duy H.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
Án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a, c, d khoản 1 Điêu 23 Nghị quyết 326/QH14 của UBTVQH khóa XIV, các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phần tranh luận, Người bào chữa cho bị cáo H là luật sư Lê Thị Xuân P cho rằng: có cơ sở xác định Đ1 không bàn bạc gì với bị cáo T1, H việc đi trộm trâu và sau khi Đ1 dắt trâu ra khỏi khu vực nhà ông C1 thì H và T1 vẫn ngồi trên xe không tham gia cùng Đ1 thực hiện hành vi trộm cắp trâu của ông C1 nên H và T1 không phạm tội trộm cắp tài sản như Kết luận điều tra và Cáo trạng truy tố. Đề nghị HĐXX xem xét tuyên bị cáo H, T1 không phạm tội và trả tự do cho 02 bị cáo H, T1 ngay tại phiên Tòa.
Bị cáo Trần Duy H đồng ý với quan điểm bào chữa của Luật sư, bị cáo H cho rằng chỉ đi chở thuê cho Đ1, không tham gia trộm cắp. Tuy bị cáo nhận thấy việc Đ1 đi lấy trâu vào đêm khuya như thế là không bình thường nhưng cho rằng mình không trộm cắp nên vẫn chở trâu lấy công. Bị cáo T1 cũng cho rằng Đại diện VKS chỉ dựa vào lời khai duy nhất của Đ1 là chưa đủ cơ sở buộc tội bị cáo. Bị cáo T1 không đồng ý với quan điểm luận tội của đại diện viện kiểm sát, cho rằng bị cáo chỉ đi theo H để H7 lái xe, hoàn toàn không biết và không tham gia trộm cắp tài sản với bị cáo Đ1.
Các bị cáo Phan Minh Đ1 và Phan Chí T2 thống nhất với quan điểm luận tội và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt. Các bị cáo Trần Duy H và Hoàng Văn T1 không thống nhất với buộc tội của đại diện viện kiểm sát.
Đại diện VKS đối đáp phân tích các tình tiết của vụ án: Khai thác mâu thuẫn trong lời khai của bị cáo H và bị cáo T1, V1 xác định lời khai của H và T1 không có cơ sở để chấp nhận. Trên cơ sở tra cứu dữ liệu điện tử, lịch sử cuộc gọi thuê bao điện thoại giữa các bị cáo, kết quả thực nghiệm điều tra. Khẳng định: lời khai của các bị cáo Phan Chí T2 và bị cáo Phan Minh Đ1 là khách quan, phù hợp với các chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập, sử dụng làm chứng cứ là phù hợp với quy định của pháp luật. Do vây đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX xem xét áp dungjh phần tội danh và hình phạt đối với các bị cáo.
Khi nói lời sau cùng, các bị cáo Phan Minh Đ1 và Phan Chí T2 đều nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật với mức án thấp nhất có thể. Các bị cáo Trần Duy H và Hoàng Văn T1 không nhận tội như VKS truy tố, đề nghị HĐXX xem xét lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Trần Duy H và Hoàng Văn T1 không nhận tội, kêu oan. Tuy nhiên, lời khai các bị cáo luôn mâu thuẫn với nhau: Tuy bị cáo H và T1 không thừa nhận có bàn bạc với Đ1 từ trước về việc đi trộm cắp nhưng H và T1 khai là khi trên xe đi sang Thanh Hóa có hỏi Đ1 về con trâu thì H khai là Đ1 nói đi mua, T1 khai là Đ1 nói đi bắt nợ, lời khai của các bị cáo H và T1 mâu thuẫn với nhau; Việc T1 khai là đi cùng H để tập lái xe nhưng cả H và T1 trình bày là lúc đi và về T1 không điều khiển xe ô tô. H cũng khai là không trao đổi gì liên quan đến việc học lái xe hoặc hướng dẫn cho T1 lái xe khi đi trên đường nhưng T1 khai là trên đường đi đến những chỗ rẽ H có hướng dẫn cho T1 về việc thao tác điều khiển xe như thế nào. Khi đến gần vị trí trộm cắp trâu, H ban đầu khai là dừng xe cho Đ1 xuống, khoảng 15 phút sau thì Đ1 quay lại gọi T1 đi lấy trâu cùng, H chờ khoảng 1 đến 2 giờ đồng hồ thì T1 và Đ1 mang trâu về. Tuy nhiên, tại phiên tòa, sau khi nghe lời khai của T1 thì bị cáo H đã thay đổi lời khai về tính tiết này cho phù hợp với lời khai của T1 nhằm bảo vệ cho T1, là khi Đ1 đi lấy trâu thì T1 ở trên xe nằm đắp chăn nghe nhạc. Có lúc H lại khai là T1 ngồi tựa ở ghế phụ nghe nhạc và không biết T1 xuống xe từ khi nào; Khi thì H khai là Đ1 quay lại gọi hỗ trợ dắc trâu thì H mới bảo T1 xuống giúp Đ1 vì muộn rồi còn về. Thậm chí còn trình bày là T1 ở trên xe cho đến khi H tìm được vị trí đỗ xe cạnh mô đất cao trong đường mòn nhỏ, sau đó T1 xuống khi nào không biết. Lời trình bày của H luôn thay đổi để phù hợp với lời khai của T1 nhằm che dấu cho hành vi phạm tội của 02 bị cáo; Ngoài ra, bị cáo H còn khai là Đ1 gọi điện 2 lần để hỏi vị trí đỗ xe. Nhưng T1 lại khai là không điện thoại hỏi vị trí xe, vì thanh ngồi trên xe cùng H, chỉ xuống xe khi Đ1 gọi T1 nhờ giúp Đ1 dắc trâu, lúc trâu còn cách xe 50 mét. Đối với việc bán trâu, lời trình bày của bị cáo H và T1 cũng mâu thuẫn: H và T1 trình bày Đ1 nhờ nói với bị cáo T2 là trâu của ba người để gửi khi về cách lán trại khoảng 5 đến 7 km. T1 khai là Đ1 nhờ gửi và bán khi cả 3 bị cáo đang trên xe còn H khai là Đ1 nhờ bán khi bị cáo T2 hỏi mua. Như vậy, lời khai của các bị cáo H và T1 về tình tiết diễn biến vụ việc có nhiều mâu thuẫn với nhau. Do đó, Lời khai của bị cáo H và T1 không đủ cơ sở để làm căn cứ xác định sự thật khách quan của vụ án.
Bên cạch đấy, bị cáo Đ1 và T2 là những người không có mâu thuẫn với các bị cáo H và T1. Trong đó, bị cáo H và T2 còn có mối quan hệ quen biết nhau từ rất lâu năm 2008. Hơn nữa, việc kết tội và xử lý các bị cáo H và T1 như thế nào đều không làm nhẹ đi hoặc tăng thêm trách nhiệm hình sự với bị cáo Đ1 và T2. Nên các bị cáo Đ1 và T2 không có lý do gì để khai báo gian dối hoặc đổ tội cho các bị cáo H và T1.
Các bị cáo H và T1 trong suốt quá trình điều tra, xét hỏi tại phiên tòa đều không có ý kiến hoặc tố cáo các bị cáo Đ1 và T2 khai báo sai sự thật. Cả 2 bị cáo Đ1 và T2 đều ra đầu thú và thành khẩn khai báo nhất quán các tình tiết của vụ án ngay từ đầu và các lời khai của 2 bị cáo này phù hợp với các tình tiết diễn biến sự việc, dấu vết và dữ liệu các cuộc điện thoại và các tài liệu khác mà cơ quan điều tra thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Mặt khác, tại phiên tòa bị cáo T2 và Đ1 khẳng định hai bố con không có mâu thuẫn với nhau như các bị cáo H và T1 trình bày, phù hợp với tài liệu xác minh của Cơ quan điều tra. Do vậy, Tình tiết Đ1 nhờ H và T1 nói là trâu chung của 3 bị cáo để nói dối bị cáo T2 là do H và T1 nại ra để chối bỏ hành vi đồng phạm của mình với Đ1 trong việc trộm cắp. Do đó, đủ cơ sở khẳng định cả 3 bị cáo bán trâu và chia nhau tiền hưởng lợi từ việc trộm cắp trâu.
Ngoài ra, Tuy bị cáo H khai chỉ là người đi chở trâu thuê cho Đ1, không biết việc Đ1 trộm trâu. Nhưng lời khai của H tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thừa nhận việc Đ1 đi mua trâu đêm khuya: “Không giống như bình thường... nên tôi nghĩ con trâu của ai đó do Đ1 trộm nhưng tôi không tham gia cùng mà chỉ đi chở cho Đ1”; bị cáo T1 cũng thừa nhận rằng việc đi bắt nợ trâu vào thời điểm ban đêm muộn là có vấn đề. Các lời khai này cũng đã xác định được về mặt ý thức chủ quan của các bị cáo có biết việc Đ1 trộm cắp tài sản và tiếp nhận ý chí của bị cáo Đ1.
Về quan điểm của người bào chữa và các bị cáo H, T1 cho rằng chỉ căn cứ vào lời khai duy nhất của bị cáo Đ1 để kết tội bị cáo H và T1 là không chính xác. Hội đồng xét xử nhận thấy: Đại diện viện kiểm sát không chỉ căn cứ vào lời khai duy nhất của bị cáo Đ2. Bởi vì, trong hồ sơ vụ án còn có lời khai của bị cáo T2 và một số tình tiết trong lời khai của các bị cáo H và T1 cũng như các tình tiết khác đã được thu thập hợp pháp để làm căn cứ xác định về mặt ý thức chủ quan của bị cáo H và T1 là thống nhất ý chí cùng nhau thực hiện việc trộm cắp tài sản như: Nhân thân các bị cáo có nhiều tiền án bị cáo H có 3 tiền án, bị cáo T1 có 6 tiền án; Thời gian xảy ra vụ việc vào đêm khuya (Lúc hơn 12h đêm), địa điểm ở khu vực vắng người qua lại, xe ô tô không vào nhà để lấy trâu mà chờ ở nơi vắng, khi dắc trâu ra không đi đường lớn thuận tiện mà đi lén lút qua vườn keo để che dấu hành vi, lúc chở trâu quay về thì đi đường vắng để tránh bị phát hiện....Về quan điểm của người bào chữa cho rằng bị cáo H cả quá trình diễn ra sự việc đều ngồi ở trên xe, chỉ tham gia giúp Đ1 và T1 đưa trâu lên thùng xe mà hành vi trộm cắp đã hoàn thành kể từ khi bị cáo Đ1 lấy được trâu ra khỏi khu vực nhà bị hại: HĐXX nhận định đây là vụ án đồng phạm, các bị cáo có sự tiếp nhận và thống nhất ý chí với nhau từ trước về hành vi trộm cắp tài sản, trong vụ án bị cáo H đã có các hành vi chở các bị cáo đi đến gần khu vực trộm cắp tài sản, chủ động tìm vị trí thuận lợi để chuẩn bị sẵn sàng đưa trâu lên dễ dàng và kín đáo. Sau đó, H chủ động chọn cung đường vắng để quay về nhằm tránh bị phát hiện và cuối cùng đã có hành vi chủ động giao dịch mặc cả bán trâu cũng như được hưởng phần của mình trong số tiền bán trâu. Do đó, xác định hành vi của H tuy không trực tiếp thực hiện trộm cắp trâu cùng Đ1 và T1 nhưng đã đủ cơ sở khẳng định có sự đồng phạm về mặt ý chí chủ quan và có nhiều hành vi hỗ trợ khác cho việc trộm cắp tài sản và đi tiêu thụ tài sản với bị cáo Đ1 và T1.
Như vậy, X1 về mặt khách quan: các hành vi của 3 bị cáo H, T1 và Đ1 cùng nhau lén lút, bí mật lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu chiếm đoạt tài sản một cách trái pháp luật. Sau đó, cùng nhau mang đi bán và chia nhau hưởng lợi số tiền bán trâu. Về mặt chủ quan: Các lời khai của H và T1 mâu thuẫn và luôn thay đổi để phù hợp với nhau nhằm trốn trách nhiệm nên không được chấp nhận. Các bị cáo đủ tuổi trưởng thành và từng có nhiều tiền án (Bị cáo H 3 tiền án, T1 6 tiền án). Căn cứ vào diễn biến sự việc về không gian, thời gian, địa điểm và các hành vi của các bị cáo chủ động trong việc phối hợp với nhau để cùng thực hiện tội phạm HĐXX đủ cơ sở khẳng định bị cáo H và T1 có thống nhất ý chí và biết trước việc đi trộm cắp tài sản như lời khai của bị cáo Đ1 và T2.
Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Đêm 20 rạng sáng ngày 21/12/2023 Phan Minh Đ1 là người khởi xướng, chủ động gọi điện thoại rủ Trần Duy H, đi tìm sơ hở để trộm cắp tài sản, H đồng ý rồi H gọi điện rủ Hoàng Văn T1 cùng tham gia, các bị can hẹn gặp nhau tại lán trang trại của gia đình Phan Chí T2, ở phường Q, thị xã T. Rồi sử dụng xe ô tô biển kiểm soát 37H1-600.62 do H điều khiển chở T1 và Đ1 đến thôn G, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, H dừng xe quay đầu, để T1 và Đ1 xuống xe trực tiếp lén lút, bí mật lẻn vào chuồng trâu, sau nhà anh Hà Văn C1 trộm cắp được 01 con trâu cái mầu đen, trọng lượng 360 kg, trị giá 21.000.000 đồng. Còn một mình H đi tìm chỗ đậu xe thuận tiện cho việc đưa con trâu là tài sản trộm cắp lên thùng. Sau khi đưa con trâu lên thùng xe, đóng cửa. H tiếp tục điều khiển xe ô tô chở 01 con trâu vừa trộm cắp về lán trang trại, rồi bán cho Phan Chí T2 với giá 18.000.000 đồng; 03 bị can chia đều mỗi người được hưởng lợi 5.600.000 đồng, riêng bị can H được thêm 1.000.000 đồng tiền xăng xe. Còn thừa 200.000 đồng các bị can cho T2 để mua sữa. Đối với Trần Duy H và Hoàng Văn T1, khi thực hiện hành vi phạm tội: Trộm cắp tài sản đêm 20 rạng sáng ngày 21/12/2023 đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý thuộc tình tiết định khung quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đối với Phan Chí T2 mặc dù không hứa hẹn trước, T2 biết rõ con trâu các bị can đưa đến lán trang trại là tài sản do trộm cắp mà có nhưng vì hám lời đã mua lại con trâu với giá 18.000.000 đồng, rồi đem đi cất dấu trong khuôn viên của trang trại.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, đủ yếu tố cấu thành tội phạm: bị cáo Trần Duy H, Hoàng Văn T1, về tội: Trộm cắp tài sản, quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; bị cáo Phan Minh Đ1, về tội: Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; bị cáo Phan Chí T2, về tội: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
[3] Xét về tính chất, mức độ hành vi, hậu quả thấy rằng:
Hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo Trần Duy H, Hoàng Văn T1, Phan Minh Đ1 và hành vi tiêu thụ tài sản của bị cáo Phan Chí T2 được thực hiện với lỗi cố ý, có tính chất nghiêm trọng, tính nguy hiểm cho xã hội cao, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, cần xử lý nghiêm minh để cải tạo, giáo dục các bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, đồng thời để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Xét về vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Đối với tội trộm cắp tài sản, Đây là vụ án có 03 người tham gia cố ý cùng thực hiện tội phạm, có tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ, phân công vai trò giữa những người đồng phạm. Ban đầu bị cáo Đ1 gọi điện thoại rủ bị cáo H đi tìm tài sản để trộm cắp, sau đó bị cáo H gọi điện rủ bị cáo T1 cùng tham gia. Sau khi gặp nhau bị cáo H là người điều khiển phương tiện, xác định địa điểm có tài sản, chở T1 và Đ1 đến thôn G, xã X để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nên các bị cáo có vai trò ngang nhau và cùng là người thực hiện; bị cáo T2 phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có độc lập một mình.
[5] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, thấy rằng:
Tình tiết tăng nặng: các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng;
Tình tiết giảm nhẹ: Đối với bị cáo Đ1 và bị cáo T2, có nhân thân tốt không có tiền án tiền sự; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện cả 2 bị cáo đã đến cơ quan điều tra xin đầu thú; Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa cả 2 bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi của mình; Tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền là 2.000.000 đồng, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Đ1 và T2. Nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo H và bị cáo T1 có nhân thân xấu có nhiều tiền án, giai đoạn điều tra và tại phiên tòa khai báo quanh co, che dấu hành vi phạm tội, nhằm trốn tránh trách nhiệm trước pháp luật, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng nên không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo. Ngoài ra, các bị cáo H và T1 cũng không có tình tiết giảm nhẹ nào khác.
[6] Xét về hình phạt bổ sung: Cả 4 bị cáo là người lao động tự do không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[7] Xử lý vật chứng: Căn cứ điều 106 Bộ luật TTHS; Điều 47 Bộ luật hình sự đề nghị HĐXX: Tuyên tịch thu xung công quỹ Nhà nước gồm:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA loại Model TA-1174, màu đen, tình trạng cũ (của Phan Chí T2); 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại 105, màu xanh, tình trạng cũ (của Phan Minh Đ1); 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, Model TA-1174 màu xanh đen, tình trạng cũ Trần Duy H ); 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA loại Model TA-1174 màu xanh đen, tình trạng cũ (Hoàng Văn T1).
- Truy thu đối với bị cáo Trần Duy H số tiền: 6.600.000 đồng; bị cáo Hoàng Văn T1 số tiền 5.600.000 đồng; bị cáo Phan Minh Đ1 số tiền 5.600.000 đồng; bị cáo Phan Chí T2 200.000 đồng, là tiền do các bị cáo mua bán tài sản trộm cắp mà có.
- Tịch thu tiêu hủy: thẻ sim số: 0971.262.367 của B; thẻ sim số 0961.100.996 của B1; thẻ sim số 0965.420.650 của BC H; thẻ sim số 0357.137.450 của BC T1 sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng.
- Đối với 01 xe ô tô tải, nhãn hiệu KIA, màu xanh, BKS 37C-380.66, đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 128768 mang tên Nguyễn Hữu H5; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô tải 37C-380.66 mang tên Nguyễn Hữu H5. Là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Tuy nhiên xét thấy đây là tài sản chung của vợ chồng bị cáo H (do vợ bị cáo đứng ra vay tiền từ nguồn vố tái hòa nhập cộng đồng) góp 75.000.000 đồng, chung với vợ chồng anh Hoàng Thanh H6 (là em rể của bị cáo). Nếu tịch thu xung công quỹ Nhà nước đối với phương tiên nêu trên, gây ảnh hưởng nghiêm trong đến đời sống sinh hoạt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Mặt khác khi xử dụng phương tiện vào mục đích phạm tội các đồng sở hữu khác không biết Hội đồng xét xử xét thấy nên xem xét trả lại cho chủ sở hữu.
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại A9, màu xanh, gắn thẻ sim số 0988.718.377, tình trạng cũ, kính cường lực vỡ, nứt, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho Trần Duy H là phù hợp.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại đầy đủ tài sản cùng chi phí thiệt hại và không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.
[9] Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a, c, d khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/QH14 của UBTVQH khóa XIV, Các bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Các bị cáo Trần Duy H và Hoàng Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Xử phạt: Bị cáo Trần Duy H 28 (Hai tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (02/01/2024).
- Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T1 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (02/01/2024).
2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Phan Minh Đ1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Xử phạt: Bị cáo Phan Minh Đ1 14 (Mười bốn) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 28 (Hai tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Phan Chí T2 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;
- Xử phạt: Bị cáo Phan Chí T2 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai tư) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị Phan Minh Đ1 và Phan Chí T2 cho UBND phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình các bị cáo Phan Minh Đ1 và Phan Chí T2 có trách nhiệm phối hợp chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 106 Bộ luật TTHS; Điều 47 Bộ luật hình sự:
- Tịch thu xung công quỹ Nhà nước gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA loại Model TA-1174, màu đen, tình trạng cũ (của Phan Chí T2); 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại 105, màu xanh, tình trạng cũ (của Phan Minh Đ1); 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, Model TA-1174 màu xanh đen, tình trạng cũ Trần Duy H); 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA loại Model TA-1174 màu xanh đen, tình trạng cũ (Hoàng Văn T1).
- Tịch thu tiêu hủy: thẻ sim số: 0971.262.367 của bị cáo T2; thẻ sim số 0961.100.996 của bị cáo Đ1; thẻ sim số 0965.420.650 của bị cáo H; thẻ sim số 0357.137.450 của bị cáo T1. Tịch thu tiêu hủy 01 thẻ sim số 0961.100.967 của Phan Minh Đ1; 01 thẻ sim số 0965.420.650 của Trần Duy H.
- Truy thu đối với bị cáo Trần Duy H số tiền: 6.600.000₫ (Sáu triệu sáu trăm nghìn đồng); bị cáo Hoàng Văn T1 số tiền 5.600.000đ (Năm triệu sáu trăm nghìn đồng); bị cáo Phan Minh Đ1 số tiền 5.600.000đ (Năm triệu sáu trăm nghìn đồng); bị cáo Phan Chí T2 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
- Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị D (người quản lý hợp pháp) 01 xe ô tô tải, nhãn hiệu KIA, màu xanh, BKS 37C-380.66, đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 128768 mang tên Nguyễn Hữu H5; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô tải 37C-380.66 mang tên Nguyễn Hữu H5.
- Trả lại cho bị cáo Trần Duy H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại A9, màu xanh, gắn thẻ sim số 0988.718.377, tình trạng cũ, kính cường lực vỡ, nứt.
Các vật chứng trên hiện đang lưu trữ tại kho tang vật của Cơ quan thi hành án dân sự huyện N theo Biên bản giao nhận vật chứng số 30/2024/TSVC ngày 20/06/2024 giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Như Xuân
Căn cứ vào Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Trần Duy H, Hoàng Văn T1, Phan Minh Đ1, Phan Chí T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí HSST.
Các bị cáo H, T1, Đ1 và T2 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết công khai bản án tại nơi cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ngô Công Tuấn |
Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 37/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Duy H & Đồng phạm, phạm tội "Trộm cắp tài sản"
