Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/HS-ST

Ngày 16-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Võ Thị Chúc Phương.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phan Phước Tân – Cán bộ hưu trí;
  2. Ông Nguyễn Quốc Thanh – Công tác tại Trường Trung học phổ thông Quốc Thái, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàn Mỹ – Thư ký Toà án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Dương Chí Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, Tòa án nhân dân huyện An Phú đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 30/2025/HSST ngày 21/5/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Trần Tuấn A, sinh ngày 01/01/1995; nơi thường trú: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; trình độ học vấn: 05/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; cha: Trần Văn L, sinh năm 1975; mẹ: Lê Thị Mỹ L1, sinh năm 1971; anh, em ruột có 03 người, bị cáo là người thứ 02; vợ: Trần Thị Cẩm T, sinh năm 2000; con có 03 người, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2022.

Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2024 cho đến nay, tại Nhà tạm giữ - Công an huyện A (hiện nay, P trại Tạm giam khu vực huyện A).

2. Võ Thanh N, sinh ngày 14/01/2008; nơi thường trú: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: 08/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; cha: Võ Văn T1, sinh năm 1987; mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1987; anh, em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ nhất.

Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị can tại ngoại; áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/12/2024 cho đến nay.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người giám hộ của bị cáo Võ Thanh N là ông Võ Văn T1, sinh năm 1991 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1987. Cùng nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang (cha mẹ ruột bị cáo N).

- Người bào chữa cho bị cáo:

Ông Phạm Minh T2, sinh năm 1982 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A bào chữa cho bị cáo Võ Thanh N. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Võ Văn T1, sinh năm 1987; nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang; (có mặt)
  2. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1991; nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang; (có mặt)
  3. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1987; nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang; (có mặt)
  4. Bà Nguyễn Thị Mỹ T4, sinh năm 1984; nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang. (có mặt)

- Người làm chứng:

  1. Bà Trần Thị Cẩm T; (có mặt)
  2. Ông Nguyễn Thanh P1; (vắng mặt)
  3. Ông Phan Văn P2. (vắng mặt).

.NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 06/12/2024, Tuấn A và N đang ngồi chơi tại nhà của Tuấn A và có nhu cầu sử dụng ma túy nên rủ N sang Campuchia để mua ma túy về sử dụng, N đồng ý. Sau khi bàn bạc xong, Tuấn A sử dụng điện thoại di động OPPO A92 liên lạc qua Messenger với người tên Q hỏi mua ma tuý, tiếp theo Tuấn A rút 500.000 đồng từ tài khoản MB số 0773905825 của Tuấn A (hình thức chuyển tiền đến tài khoản V số 0471000311975 của Nguyễn Thị Mỹ T4), rồi kêu N đến gặp T4 nhận tiền mặt và mang tiền về đưa cho Tuấn A; N nhận tiền tư Mỹ T4 và tự trả phí dịch vụ 10.000 đồng cho bà T4. Sau đó, N điều khiển xe mô tô biển số 67G1-283.05 chở Tuấn A đến khu vực biên giới và gửi xe tại nhà Phan Văn P2. Tuấn A, N đi bộ đến Trạm biên phòng làm thủ tục xuất cảnh qua biên giới, gặp Q bên Campuchia (không rõ địa điểm) mua 500.000 đồng ma túy; nhận ma túy xong, Tuấn A cất giấu ma tuý trong túi quần, mang về nhà để cả hai cùng sử dụng. Khoảng 12 giờ 30 ngày 06/12/2024, Trần Tuấn A và Võ Thanh N đang làm thủ tục nhập cảnh từ Campuchia về Việt Nam thì bị lực lượng Đồn biên phòng Cửa khẩu V1 tiến hành kiểm tra thu giữ trong túi quần bên trái phía sau của Tuấn A đang mặc có 01 bọc nilon trong suốt một đầu có rãnh khóa màu trắng chứa tinh thể màu trắng (qua giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 1,2097 gam).

Ngoài ra, Trần Tuấn A còn khai đêm 05 rạng sáng ngày 06/12/2024, có bán 700.000 đồng ma tuý đá cho người nam tên Trần Văn Tuấn A và Trần Văn Tuấn A trả tiền thông qua chuyển khoản ngân hàng. Võ Thanh N khai xe mô tô 67G1-283.05 bị thu giữ của ông Nguyễn Văn T3, gửi cho ông Võ Văn T1 – (cha bị cáo N) quản lý, trong thời gian ông T3 đi làm thuê tại tỉnh Bình Dương, N điều khiển đi mua ma tuý để sử dụng, ông T3 không biết.

Kết luận giám định số 1708/KL-KTHS, ngày 09/12/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A, ghi nhận: Mẫu M gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 1,2097 gam.

Kết luận giám định số 1777/KL-KTHS, ngày 28/02/2025 của Phòng K - Công an tỉnh A kết luận: Tìm thấy dữ liệu lưu trữ trong 02 điện thoại di động do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện A gửi giám định, chi tiết thể hiện trong đĩa DVD dữ liệu trích xuất kèm theo giao Cơ quan điều tra.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 bọc nilon trong suốt một đầu có rãnh khóa màu trắng chứa tinh thể màu trắng;
  • 02 điện thoại di động (01 điện thoại di động IPHONE XSMAX màu trắng, số IMEI 1: 357278099042070, số IMEI 2: 357278098787352 ;
  • 01 điện thoại di động OPPO A92, số IMEI 1: 862251056451533, số IMEI 2: 862251056451525;
  • 01 xe mô tô YAMAHA - SIRIUS, màu sơn Đen - Đỏ, gắn biển số 67G1-283.05, số khung FC30F1154374, số máy 1FC3154379; tất cả đã qua sử dụng .

Ngày 13/12/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện A ra Quyết định khởi tố bị can đối với Trần Tuấn A và Võ Thanh N.

Tại Cáo trạng số 25/CT-VKSAP ngày 20/5/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú đã truy tố Trần Tuấn A và Võ Thanh N cùng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Tuấn A và Võ Thanh N thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu, các bị cáo không có ý kiến về kết luận định giám định. Các bị cáo khai bản thân nghiện ma túy nên ngày 06/12/2024 mua ma túy về với mục đích cùng nhau sử dụng, Tuấn A nghiện từ năm 2019; còn riêng N nghiện cách đây khoảng 04 tháng, trong thời gian cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 13/12/2024 đến nay thì bị cáo vẫn sử dụng ma túy, bị cáo xin nhận lại điện thoại.

Ông T1, bà H cùng trình bày do hoàn cảnh khó khăn, đi làm nên không quan tâm bị cáo N, dẫn đến việc bị cáo nghiện, thực hiện hành vi phạm tội, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo về làm lại cuộc đời.

Ông T3 trình bày do đi làm Bình Dương nên để xe mô tô 67G1-283.05 cho chị ruột là bà H quản lý, việc N lấy xe mua ma túy ông không biết, ông yêu cầu được nhận lại xe.

Bà T4 trình bày Tuấn A có chuyển tiền vào tài khoản cá nhân của bà 500.000đ, sau đó N đến đọc đúng tên người chuyển, đúng số tài khoản cá nhân thì bà đưa 500.000đ cho N và nhận phí từ Nam 10.000đ, việc các bị cáo sử dụng tiền đó mua ma túy như thế nào thì bà không biết.

Bà T trình bày bà là vợ của bị cáo Tuấn A, việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tôị thì bà không biết.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Trần Tuấn A và Võ Thanh N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: bị cáo Trần Tuấn A 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06/12/2024.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên;

Xử phạt bị cáo Võ Thanh N, từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên:

Trả lại cho bị cáo Võ Thanh N 01 điện thoại iPhone XS Max màu trắng; trả lại cho ông Nguyễn Văn T3 01 xe mô tô YAMAHA - SIRIUS, màu sơn Đen - Đỏ, biển số 67G1-283.05; Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại OPPO A92 của bị cáo Trần Tuấn A; Đề nghị tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí; nghĩa vụ, trách nhiệm thi hành án; quy định quyền kháng cáo của các bị cáo, đương sự trong vụ án theo luật định.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt.

Ông Phạm Minh T2 – Người bào chữa cho các bị cáo Võ Thanh N trình bày lời bào chữa: Không có ý kiến về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ và các vấn đề khác mà Kiểm sát viên đã nêu. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt mong Hội đồng xét xử xem xét bị cáo là người chưa thành niên, việc bị cáo mua ma túy chỉ để cùng sử dụng với bị cáo Tuấn A. Căn cứ các quy định của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo N được chuyển hướng hình phạt đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Đại diện Viện kiểm sát đối đáp tranh luận, bị cáo N không thuộc trường hợp chuyển hướng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định.

Ông T1, bà H xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N; bà N1 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Tuấn A. Những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, tỉnh An Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa, người làm chứng vắng mặt không rõ lý do. Tuy nhiên, những người này đã có lời khai thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án. Xét, những người tham gia tố tụng vắng mặt đều đã có lời khai tại Cơ quan Điều tra được thể hiện trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử; căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, lời nhận tội của các bị cáo Trần Tuấn A, Võ Thanh N phù hợp với lời khai mà các bị cáo đã khai nhận tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 06/12/2024, Kết luận giám định số 1078/KL-KTHS ngày 09/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh A, Kết luận giám định số 1777/KL-KTHS ngày 28/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh A và các tài liệu, chứng cứ khác thu giữ trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo Trần Tuấn A và Võ Thanh N có hành vi tàng trữ chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 1,2097g (một phẩy hai không chín bảy gam) để nhằm mục đích sử dụng. Các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, thỏa mãn dấu hiệu về mặt khách quan của tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự), cho nên Cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Xét về tính chất của vụ án: Các bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được Methamphetamine là chất ma túy do Nhà nước độc quyền quản lý nhưng vẫn cố ý tàng trữ nhằm mục đích sử dụng. Ma túy là chất gây nghiện, tạo sự lệ thuộc về thể chất lẫn tinh thần đối với người sử dụng, khi thâm nhập vào cơ thể sẽ gây kích thích mạnh, làm cho người nghiện bị giảm sút cả thể xác lẫn tinh thần và khi lên cơn nghiện dễ có hành vi phạm tội. Các bị cáo xem thường pháp luật, thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, phá hoại việc tập trung, quản lý của Nhà nước đối với công tác phòng, chống ma túy. Xét vai trò của từng bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, Tuấn A là người khởi xướng, rủ N thực hiện hành vi phạm tội, do đó mức hình phạt của bị cáo Tuấn A sẽ nghiêm khắc hơn so với bị cáo N.

[4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Tuấn A có hành vi xúi giục người dưới 18 tuổi là bị cáo Võ Thanh N phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; bị cáo Võ Thanh N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Riêng bị cáo Võ Thanh N là người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi, theo Luật tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15 ngày 30/11/2024, có hiệu lực ngày 01/01/2026, tuy nhiên theo khoản 2 Điều 179 của Luật này quy định các điều khoản có lợi cho người phạm tội được áp dụng kể từ ngày luật được công bố (30/11/2024). Do đó Hội đồng xét xử vẫn xem xét mức hình phạt đối với bị cáo N theo quy định tại khoản 1 Điều 119 của Luật tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15, tức mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần năm mức phạt tù mà điều luật quy định.

[6] Về hình phạt: Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là thuộc trường hợp nghiêm trọng, các bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo Tuấn A có thời gian dài sử dụng ma túy từ năm 2019 cho đến nay, riêng bị cáo N mặc dù khai nhận mới sử dụng nhưng tại phiên tòa bị cáo thừa nhận trong thời gian cấm đi khỏi nơi cư trú chờ ngày xét xử bị cáo vẫn tiếp tục sử dụng ma túy, bị cáo N vẫn chưa có nhận thức đúng về tác hại của ma túy, thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Do vậy, cần có mức hình phạt tương xứng và cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo và phòng ngừa tội phạm chung. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng đối với tính chất của hành vi phạm tội mà các bị cáo thực hiện, phù hợp với tình tiết vụ án và đảm bảo tính răng đe phòng ngừa tội phạm. Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Võ Thanh N về việc xem xét bị cáo N được áp dụng chuyển hướng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Hội đồng xét xử nhận thấy không có cơ sở để xem xét.

[7]. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Võ Thanh N. Riêng đối với bị cáo Trần Tuấn A, Hội đồng xét xử xét thấy nghề nghiệp bị cáo không ổn định, không có thu nhập, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự.

[ 8] Về xử lý vật chứng: Quá trình bắt giữ, điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra có thu giữ vật chứng. Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

  • Đối với 01 (một) bọc nilon trong suốt một đầu có rãnh khóa màu trắng chứa tinh thể màu trắng. Đây là lượng ma túy còn lại sau khi giám định nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • 01 (một) điện thoại di động IPHONE XSMAX màu trắng, số IMEI 1: 357278099042070, số IMEI 2: 357278098787352, đây là tài sản của bị cáo Võ Thanh N, do không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
  • 01 (một) điện thoại di động OPPO A92, số IMEI 1: 862251056451533, số IMEI 2: 862251056451525. Đây là phương tiện bị cáo Trần Tuấn A dùng để trao đổi, liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • 01 (một) xe mô tô YAMAHA - SIRIUS, màu sơn Đen - Đỏ, gắn biển số 67G1-283.05, số khung FC30FI154374, số máy 1FC3154379, đây là tài sản của ông T3, việc bị cáo N sử dụng xe để mua ma túy thì ông T3 không biết, do đó cần trao trả lại cho ông Nguyễn Công T5.

[09] Việc các bị cáo khai nhận nguồn gốc ma túy mua lại từ người đàn ông tên Q ở Campuchia nhưng do chưa xác định được lai lịch người bán nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tách ra tiếp tục điều tra, nếu có căn cứ xử lý sau là đúng quy định của pháp luật. Ngoài ra đối với hành vi của bị cáo Trần Tuấn A có bán ma túy cho Trần Văn Tuấn A, tuy nhiên hiện Cơ quan điều tra chưa làm việc được với Trần Văn Tuấn A do người này đang sống và làm thuê tại Campuchia. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh A tiếp tục làm rõ và xử lý theo quy định pháp luật.

[10] Về án phí: Các bị cáo Trần Tuấn A và Võ Thanh N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy đinh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Tuấn A và Võ Thanh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  2. Về hình phạt:

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt: Bị cáo Trần Tuấn A 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 06/12/2024.

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên số: 59/2024/QH15 ngày 30/11/2024.

    Xử phạt: Bị cáo Võ Thanh N 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam.

  3. Về vật chứng: Căn cứ vào các Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bọc nilon trong suốt một đầu có rãnh khóa màu trắng chứa tinh thể màu trắng.
    • Tịch thu sung công quỷ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động OPPO A92, số IMEI 1: 862251056451533, số IMEI 2: 862251056451525
    • Trả lại cho bị cáo Võ Thanh N 01 (một) điện thoại di động IPHONE XSMAX màu trắng, số IMEI 1: 357278099042070, số IMEI 2: 357278098787352
    • Trả lại cho ông Nguyễn Văn T3 01 (một) xe mô tô YAMAHA - SIRIUS, màu sơn Đen - Đỏ, gắn biển số 67G1-283.05, số khung FC30FI154374, số máy 1FC3154379.

    Hiện trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/5/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A và Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú, tỉnh An Giang.

  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Buộc bị cáo Trần Tuấn A và Võ Thanh N mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (16/6/2025), các bị cáo Trần Tuấn A và Võ Thanh N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.

    Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang (01);
  • - VKSND tỉnh An Giang (01);
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang (01);
  • - VKSND huyện An Phú (02);
  • - Phân trại tạm giam CATAG(01);
  • - Thi hành án DS huyện AP (01);
  • - Bộ phận THAHS Tòa án HAP(01);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (01);
  • - Bị hại, liên quan (nếu có);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (01);
  • - Lưu văn phòng (01).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Chúc Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 37/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Trần Tuấn Anh và Võ Thanh Nam
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger