|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số:37/2025/HS-ST Ngày 16-4-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH LÂM ĐỒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy
Các hội thẩm nhân dân. + Bà: Nguyễn Thị Tài
+ Bà: Lê Thị Sáu
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Vương thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2025. Tại trụ sở Tòa án huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 32/2025/TLST- HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo.
Họ và tên: Ng Đ M; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1998 Tại: Nghệ An; Giới tính: Nam; NĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 15, phường L Ph, Tp Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc:Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ văn hóa: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Ng Đ Th, sinh năm: 1976; Con bà: H Th Ng, sinh năm 1976; Vợ: H Th D Â; Con: 01 người; Tiền sự: Không; Tiền án: 02. Bản án số 14/2018/HSST ngày 22/03/2018, bị TAND TP Bảo Lộc xử 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 24/10/2019. (Chưa xoá án tích); Bản án số 128/2020/HSST ngày 27/11/2020 bị TAND Tp Bảo Lộc xử phạt 2 năm 6 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý chấp hành xong án phạt tù ngày 13/11/2022 (chưa được xoá án tích). Về nhân thân: Bản án số 18/2015/HSST ngày 18/06/2015, bị TAND TP Bảo Lộc xử 06 tháng tù cho hưởng án treo 12 tháng thử thách về tội “Trộm cắp tài sản” (Đã được xóa án tích); Bản án số 09/2015/HSST ngày 28/01/2016, bị TAND TP Bảo Lộc xử 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong án phạt tù ngày 17/10/2016. (đã được xóa án tích); Bị cáo bị bắt và tạm giam từ ngày 23/01/2025 đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực Bảo Lâm Công an tỉnh Lâm Đồng (Có mặt tại phiên tòa)
Người bị hại.
- 1/ Ông Tr V L, sinh năm 1998 (có mặt)
- Địa chỉ: Thôn 1, L Ph, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
- 2/ Ông H Đ, sinh năm 1987 (có đơn xin vắng mặt)
- Địa chỉ: Tổ 12, thị trấn L Th, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18h30 ngày 25/6/2024. Ng Đ M đi vào khu vực Lộc Thắng để nhặt ve chai khi đi đến khu vực vườn nhà anh Tr V L và anh H Đ thì thấy vườn của anh Đức được rào bằng dây kẽm gai, vườn của anh Lâm có hai cánh cổng bằng sắt điều không có người trông coi. Đến khoảng 03h sáng ngày 26/6/2024 Mạnh chuẩn bị một kìm bấm rồi điều khiển xe nhãn hiệu Feefling biển kiểm soát 88F1- 00956 kéo theo một xe lôi tự chế đi từ nhà Mạnh đến vườn của anh Đ. M dùng kím cắt dây kẽm gai của hàng rào rồi cuộn lại thành 03 cuộn, sau đó Mạnh dùng xe máy chở ba cuộn kẽm gai này đi đến vườn nhà anh Lâm, Mạnh tiếp tục dùng kìm bẩm để tháo 02 cánh cổng rồi bỏ lên xe máy chở đi. Khi đi đến khu vực hồ bùn đỏ thuộc tổ 22 thị trấn Lộc Thắng thì ông Lâm phát hiện và đuổi theo nên Mạnh bỏ xe cùng tang vật tại hiện trường.
Vật chứng thu giữ: 01 xe máy nhãn hiệu Feefling màu đen, biển số 88F1 - 00956, tình trạng bên ngoài xe đã cũ, máy móc bên trong không kiểm tra; 01 xe lôi tự chế có 02 bánh cao su, kích thước thùng xe 1.05 x 1,2m x0,3m; 03 cuộn dây kẽm gai đã cũ có trọng lượng 30kg; 02 cánh cửa sắt kích thước mỗi cánh 1,9m x 1,4m; khung cửa được hàn bằng thanh sắt hộp kích thước 06cm x 03cm; phần cánh cửa được làm bằng lưới B40 trọng lượng 02 cánh cửa là 43kg; 01 kìm bấm dài 20cm có phần cán bọc cao su màu xanh xám dài 16cm, lưỡi bằng kim loại dài 04cm; 01 lưỡi dao bằng kim loại dài 28cm, rộng 3cm, phần lưỡi dao có một cạnh sắt dài 21cm, lưỡi dao cong về phái cạnh được mài.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐGTS ngày 01/08/2024 xác định: Giá trị của 03 cuộn kẽm gai có trọng lượng 30kg tại thời điểm định ngày 26/6/2024 có giá trị là: 180.000 đồng. Giá trị của 02 cánh cửa sắt có kích thước 1,9m X 1,4m phần khung làm bằng sắt hộp có khối lượng là 43kg thại thời điểm ngày 26/6/2024 có giá trị là 258.000 đồng. (BL 47-52)
Bản cáo trạng số 41/CT- VKSCT ngày 20 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Ng Đ M về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 BLHS.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi của mình như nội dung cáo trạng VKS truy tố là đúng không oan sai, bị cáo không có ý kiến gì bản cáo trạng, bị cáo không bào chữa hành vi phạm tội của mình đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố, tội danh và Điều luật áp dụng đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử Tuyên bị cáo Ng Đ M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS.
Về hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo Ng Đ M từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS đề nghị
Đề nghị chuyển: 01 xe máy nhãn hiệu Feefling màu đen, biển số 88F1 - 00956, tình trạng bên ngoài xe đã cũ, máy móc bên trong không kiểm tra cho công an tỉnh Lâm đồng xử lý theo quy định; Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 xe lôi tự chế có 02 bánh cao su, kích thước thùng xe 1.05 x 1,2m x0,3m; 01 kìm bấm dài 20cm có phần cán bọc cao su màu xanh xám dài 16cm, lưỡi bằng kim loại dài 04cm; 01 lưỡi dao bằng kim loại dài 28cm, rộng 3cm, phần lưỡi dao có một cạnh sắt dài 21cm, lưỡi dao cong về phía cạnh được mài.
Về án phí bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đầy đủ các hành vi, quyết định tố tụng theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Trong quá trình điều tra bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai bị cáo tại phiên Tòa phù hợp lời khai trong hồ sơ vụ án, biên bản khám xét, biên bản niêm phong đồ vật, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Sáng ngày 26/6/2024 bị cáo M chuẩn bị một kìm bấm rồi điều khiển xe nhãn hiệu Feefling biển kiểm soát 88F1-00956 kéo theo một xe lôi tự chế đi từ nhà đến vườn của anh Đ dùng kím cắt dây kẽm gai của hàng rào rồi cuộn lại thành 03 cuộn, sau đó bị cáo dùng xe máy chở ba cuộn kẽm gai này đi đến vườn nhà anh Lâm, bị cáo tiếp tục dùng kìm bấm để tháo 02 cánh cổng rồi bỏ lên xe máy chở đi. Tại bản kết luận định giá tài sản số 47/KL- HĐĐGTS ngày 01/08/2024 xác định giá trị của 03 cuộn kẽm gai có trọng lượng 30kg tại thời điểm định ngày 26/6/2024 có giá 180.000 đồng; Giá trị của 02 cánh cửa sắt có kích thước 1,9m X 1,4m phần khung làm bằng sắt hộp có khối lượng là 43kg thại thời điểm ngày 26/6/2024 có giá là 258.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 438.000đ chưa đủ định lượng tuy nhiên bị cáo Ng Đ M đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích mà ngày 26/6/2024 bị cáo Mạnh tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo đã đủ cơ sở kết luận phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
[3] Về tính chất và mức độ: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tài sản công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương và xã hội cần xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên Tòa bị cáo thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có tình tiết tăng nặng
[6] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu nhiều lần bị xét xử về hành vi chiếm đoạt tài sản. Bị cáo sau khi cải tạo không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện mà tiếp tục lao vào con đường phạm tội.
[7] Xét ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo chấp hành hình phạt tù từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật.
[7] Từ nhận định trên, cân nhắc tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội là cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.
[8] Về hình phạt bổ sung bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo trộm cắp. anh H Đ đã nhận lại 03 cuộn kẽm gai, anh Tr V L đã nhận lại 02 cánh cổng sắt nên không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự. Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về xử lý vật chứng: 01 xe máy nhãn hiệu Feefling màu đen, biển số 88F1 -00956, tình trạng bên ngoài xe đã cũ, máy móc bên trong không kiểm tra. Không xác định nguồn gốc. Hội đồng xet xử xét cần tuyên giao cho công an tỉnh Lâm đồng xử lý theo quy định.
01 xe lôi tự chế có 02 bánh cao su, kích thước thùng xe 1.05 x 1,2m x0,3m; 01 kìm bấm dài 20cm có phần cán bọc cao su màu xanh xám dài 16cm, lưỡi bằng kim loại dài 04cm; 01 lưỡi dao bằng kim loại dài 28cm, rộng 3cm, phần lưỡi dao có môt cạnh sắt dài 21cm, lưỡi dao cong về phía cạnh được mài. Đây là vật chứng bị cáo dùng trộm cắp tài sản không có giá trị cần. Hội đồng xét xử xét cần Tuyên tịch thu tiêu hủy
[11] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ng Đ M phạm tội “trộm cắp tài sản”
- 2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Ng Đ M 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (23/01/2025).
- 3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS
- Tuyên giao 01 xe máy nhãn hiệu Feefling màu đen, biển số 88F1- 00956, tình trạng bên ngoài xe đã cũ, máy móc bên trong không kiểm tra cho Công an tỉnh Lâm Đồng xử lý theo quy định.
- Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 xe lôi tự chế có 02 bánh cao su, kích thước thùng xe 1.05 x 1,2m x 0,3m; 01 kìm bấm dài 20cm có phần cán bọc cao su màu xanh xám dài 16cm, lưỡi bằng kim loại dài 04cm; 01 lưỡi dao bằng kim loại đài 28cm, rộng 3cm, phần lưỡi dao có một cạnh sắt dài 21cm, lưỡi dao cong về phiá cạnh được mài.
- (Vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận tài sản, vật chứng giữa công an tỉnh Lâm đồng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm).
- 4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Ng Đ M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- 5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự
- Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo, người bị hại văng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân Tỉnh Lâm Đồng xét xử theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Trần Thị Thanh Thúy |
Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 37/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm căp tài sản
