|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Bản án số: 37/2025/HNGĐ-ST Ngày: 14-4-2025 V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Hai.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Đích
2. Ông Nguyễn Kim Thành
- Thư ký phiên tòa: Ông Lã Phú Huy - Thư ký Toà án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 208/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 208/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 32/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Doãn Thị Triệu L, sinh năm 1987; Địa chỉ: K333 P - TỔ B, khối phố M, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. (Có mặt tại phiên toà)
- Bị đơn: Ông Huỳnh N, sinh năm 1979; Địa chỉ: Số B Đ, tổ B, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện gửi đến Toà án ngày 06 tháng 11 năm 2024 và quá trình tố tụng tại tòa án nguyên đơn bà Doãn Thị Triệu L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Huỳnh Nhật kết H vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện P, tỉnh thừa Thiên Huế theo Giấy chứng nhận kết hôn số 56, quyển số 01 ngày 10 tháng 6 năm 2010, hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại số B Đ, tổ B, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông N thường xuyên vắng nhà, ít quan tâm đến gia đình, mâu thuẫn trầm trọng nhất vào đầu năm 2023. Vì vậy, bà và ông N đã ly thân từ tháng 01 năm 2023 cho đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Huỳnh N.
Về con chung: Bà L xác nhận vợ chồng bà có 02 con chung là Huỳnh Văn Quốc H1, sinh ngày 07/3/2011 và Huỳnh Văn Quốc A, sinh ngày 24/7/2013. Hiện nay 02 con đang được bà nuôi dưỡng, sau ly hôn, bà có nguyện vọng được tiếp tục nuôi hai con, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác nhận vợ chồng bà không có.
* Đối với bị đơn ông Huỳnh N: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà cho ông Huỳnh N nhưng ông Huỳnh N cố tình vắng mặt không đến toà làm việc mà không có lý do, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà Doãn Thị Triệu L nên không có bản tự khai cũng như không thể tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ và hoà giải được, không có lời trình bày tại phiên toà hôm nay.
* Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tại phiên toà:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự quy định của pháp luật.
Đối với các đương sự: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
- + Đề nghị HĐXX căn cứ các điều 51,56,81,83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Doãn Thị Triệu L, xử cho bà Doãn Thị Triệu L được ly hôn ông Huỳnh N.
- + Về con chung: Giao 02 con Huỳnh Văn Quốc H1, sinh ngày 07/3/2011 và Huỳnh Văn Quốc A, sinh ngày 24/7/2013 cho bà Doãn Thị Triệu L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi 02 con đủ tuổi trưởng thành.
- Về cấp dưỡng: Bà Doãn Thị Triệu L không yêu cầu ông Huỳnh N cấp dưỡng.
- + Về tài sản chung và nợ chung: Bà Doãn Thị Triệu L xác nhận vợ chồng bà không có
- + Bà Doãn Thị Triệu L phải chịu án phí theo quy định pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa; Sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Bị đơn ông Huỳnh N có địa chỉ nơi cư trú tại số B Đ, tổ B, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng nên Tòa án nhân dân quận Sơn Trà thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Bị đơn ông Huỳnh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, do đó căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX xét xử vắng mặt ông Huỳnh N.
Về nội dung tranh chấp:
[3]Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Doãn Thị Triệu L và ông Huỳnh N được xác lập trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện vào 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện P, tỉnh thừa Thiên Huế theo Giấy chứng nhận kết hôn số 56, quyển số 01 ngày 10 tháng 6 năm 2010. Vì vậy, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Doãn Thị Triệu Ly K rằng:
Bà không còn tình cảm, không còn thương yêu gì đối với ông Huỳnh N vì tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không ai quan tâm đến ai, thực tế vợ chồng đã sống ly thân, hai bên gia đình đã hoà giải nhiều lần nhưng không thành. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Huỳnh N.
Đối với bị đơn ông Huỳnh N đã nhận được các văn bản tố tụng hợp lệ của tòa án nhưng ông không đến toà để hòa giải. Điều này chứng tỏ ông không muốn hàn gắn để xây dựng hạnh phúc gia đình.
Căn cứ biên bản xác minh ngày 26 tháng 02 năm 2025 đã được chính quyền địa phương xác nhận có nội dung: “Ông Huỳnh N sinh năm 1979 và bà Doãn Thị Triệu L sinh năm 1987 là vợ chồng, trước đây có cư trú, sinh sống tại số B Đ, tổ B, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng, quá trình chung sống vợ chồng ông N bà L có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn địa phương không rõ do ông N và bà L không báo cho tổ trưởng, giữa năm 2024 do mâu thuẫn gia đình nên bà L đã dọn đi nơi khác sinh sống. Ông N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số B Đ, tổ B, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng nhưng không cư trú thường xuyên tại địa phương...”
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, hội đồng xét xử xét thấy: Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình nhưng giữa bà L và ông N không đạt được mục đích này. Mâu thuẫn giữa bà L và ông N đã đến mức trầm trọng, thực tế bà L và ông N đã không chung sống cùng nhau, không ai quan tâm đến ai, tình cảm vợ chồng không còn làm cho cuộc hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng hàn gắn không còn nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, 56 luật HNGĐ năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L, xử cho bà L được ly hôn ông N là phù hợp.
[2.2] Về con chung: Bà L xác nhận vợ chồng có 02 con chung là: Huỳnh Văn Quốc H1, sinh ngày 07/3/2011 và Huỳnh Văn Quốc A, sinh ngày 24/7/2013. Sau ly hôn, bà L có nguyện vọng nuôi 02 con, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.
Xét việc nuôi con của bà L thì thấy: Việc nuôi dạy con là trách nhiệm và nghĩa vụ của cha mẹ, hiện tại 02 con đang sinh sống với mẹ, để không làm xáo trộn cuộc sống của con, mẹ hiện có thu nhập để nuôi con và nguyện vọng của 02 con cũng muốn sống với mẹ sau khi ba mẹ ly hôn. Vì vậy, căn cứ vào các điều 81,82,83 luật HNGĐ năm 2014 xử giao 02 con Huỳnh Văn Quốc H1, sinh ngày 07/3/2011 và Huỳnh Văn Quốc A, sinh ngày 24/7/2013 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không đề cập đến.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác nhận vợ chồng bà không có sản chung và nợ chung nên HĐXX không đề cập giải quyết.
[3] Về án phí HNGĐ sơ thẩm : Bà L phải chịu 300.000 đồng
[4] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Doãn Thị Triệu L. Xử cho bà L được ly hôn ông N và giao 02 con Huỳnh Văn Quốc H1, sinh ngày 07/3/2011 và Huỳnh Văn Quốc A, sinh ngày 24/7/2013 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. HĐXX xét thấy đề nghị Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên HĐXX chấp nhận đề nghị của VKS.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ban hành ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Doãn Thị Triệu L đối với ông Huỳnh N về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Doãn Thị Triệu L được ly hôn ông Huỳnh N. Do chấp nhận yêu cầu ly hôn của Doãn Thị Triệu L được ly hôn ông Huỳnh N nên giấy chứng nhận kết hôn số số 56, quyển số 01 do UBND xã V, huyện P, tỉnh thừa Thiên Huế cấp ngày 10 tháng 6 năm 2010 không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Giao hai con chung Huỳnh Văn Quốc H1, sinh ngày 07/3/2011 và Huỳnh Văn Quốc A, sinh ngày 24/7/2013 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con thành niên (đủ 18 tuổi);
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác nhận giữa bà và ông N không có nên HĐXX không đề cập giải quyết.
- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng bà Doãn Thị Triệu L phải chịu nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0003083 ngày 19/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L không yêu cầu ông N không cấp dưỡng nên HĐXX không đề cập đến.
Bên không nuôi con được quyền đi lại, thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Khi cần thiết vì lợi ích con chung các bên có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Hai |
Bản án số 37/2025/HNGĐ-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 37/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Doãn Thị Triệu L xin được ly hôn ông Huỳnh Nh
