Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NINH HÒA

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/HS-ST

Ngày 11 tháng 4 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA - TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lương Công Thủy
  2. Bà Trần Thị Cúc

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thúy Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hoà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trương Ngọc Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2025/HSST ngày 25 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Trung T, sinh năm 1998 tại thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

    Nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Thành T1, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1970; Tiền án, tiền sự: không;

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/12/2024; Có mặt.

  2. Lê Hận Quốc N1, sinh năm 1989 tại thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

    Nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Văn T2, sinh năm 1963 và bà Huỳnh Thị C, sinh năm 1961; Vợ: Lê Thị Thanh T3, sinh năm 1991; Có 01 con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: không;

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/12/2024; Có mặt.

  3. Trần Lê Nguyên Q, sinh năm 1999 tại thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

    Nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn M, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1968; Tiền án, tiền sự: không;

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/12/2024; Có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Phan Văn T4, sinh năm 1997

Địa chỉ: Thôn P, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

Vắng mặt

- Người làm chứng:

  1. Bà Lê Thị Thanh T3, sinh năm 1991

    Địa chỉ: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

    Vắng mặt

  2. Bà Huỳnh Thị C, sinh năm 1961

    Địa chỉ: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

    Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 23/9/2024, Nguyễn Trung T rủ Lê Hận Quốc N1 sử dụng ma túy thì N1 đồng ý. Sau đó, T đưa cho N1 số tiền 200.000đồng rồi cả hai đi vào khu vực lầu G, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa để tìm người mua ma túy. Khi đến nơi, T đứng chờ còn N1 đi bộ tìm người bán ma túy thì gặp được một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi N1 “lấy đồ gì”, N1 nói “lấy đá, 200.000 đồng”. Người này đồng ý và nhận số tiền 200.000đồng rồi bỏ đi. Lúc sau, người này quay lại đưa cho N1 một gói nilong màu trắng, có khoá miệng màu đỏ bên trong có chứa ma túy đá cùng một ống thủy tinh hình cong, một đầu có hình bầu tròn, thường gọi là “nỏ”. Sau khi nhận được ma túy và dụng cụ sử dụng T, N1 đi về nhà mẹ của N1 là bà Huỳnh Thị C ở thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa ngồi uống bia thì có Trần Lê Nguyên Q đến. Khi đang nhậu, N1 lấy gói ma túy và dụng cụ sử dụng được cất giấu trong người ra rồi nói với Q “Làm cái bình để chơi đi”, nghe vậy, Q hiểu ý nên đã lấy một bình nhựa hình đa giác màu trắng dùng để đựng thuốc lào ở gần đó, rồi dùi thủng hai lỗ trên nắp bình, một lỗ Quỳnh gắn ống hút nhựa màu trắng, lỗ còn lại gắn ống thủy tinh hình cong. Q lấy gói ma túy đổ vào bộ dụng cụ sử dụng rồi bật lửa nung nóng ma túy trong ống thủy tinh rồi đưa cho N1, T, Q cùng nhau sử dụng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày Công an xã N và Công an thị xã N nghi ngờ nhà bà Huỳnh Thị C tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên tiến hành kiểm tra, lập biên bản thu giữ các vật chứng có liên quan.

Tại bản kết luận giám định số 62/2024/KL-KTHS ngày 05/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh K xác định chất tinh thể màu vàng nâu trong mẫu kí hiệu A gửi giám định có khối lượng 0,0199g (không phẩy không một chín chín gam) là chất ma túy, loại Mathamphetamine.

Quá trình điều tra Nguyễn Trung T, Lê Hận Quốc N1, Trần Lê Nguyên Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Tại bản Cáo trạng số 23/CT-VKS-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa đã truy tố các bị cáo Nguyễn Trung T, Lê Hận Quốc N1, Trần Lê Nguyên Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 38; Điều 58; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo, ngoài ra bị cáo Lê Hận Quốc N1 có vợ đang mang thai nên đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù, Lê Hận Quốc N1 từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù, Trần Lê Nguyên Q từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tại phiên tòa, người chứng kiến và người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc họ vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 và 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[1.2] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên cũng như của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên và của các cơ quan tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, đúng quy định.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng; Phù hợp với biên bản sự việc, phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 23/9/2024 tại thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa các bị cáo Nguyễn Trung T, Lê Hận Quốc N1, Trần Lê Nguyên Q có hành vi cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine thì bị công an xã N và Công an thị xã N phát hiện. Để cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy các bị cáo thực hiện các hành vi cụ thể, trong đó Nguyễn Trung T và Lê Hận Quốc N1 là người cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy, địa điểm sử dụng ma túy, bị cáo Trần Lê Nguyễn Q1 là người làm dụng cụ và trực tiếp đổ ma túy vào dụng cụ sử dụng ma túy rồi bật lửa nung nóng ma túy trong ống thủy tinh để các bị cáo cùng nhau sử dụng. Hành vi của các bị cáo là đồng phạm về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Mặt khác, theo quy định tại Điều 255 Bộ luật hình sự không quy định loại trừ trách nhiệm hình sự đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đối với đồng phạm.

Do đó, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định Cáo trạng số 23/CT-VKS-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa đã truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[2.2] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Hành vi của các bị cáo không những làm ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an ở địa phương mà còn tổn hại trực tiếp đến sức khỏe của các bị cáo, ảnh hưởng đến giống nòi, đặc biệt là đây nguyên nhân sâu xa gây ra một số loại tội phạm khác. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, để cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy các bị cáo đã thực hiện một trong các hành vi cung cấp ma túy, địa điểm, dụng cụ. Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy các bị cáo phải chịu mức hình phạt ngang nhau tương ứng với hành vi đã thực hiện.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy cần có bản án nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phát huy tính phòng ngừa chung.

[3] Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

[3.1] Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3.2] Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm cho các bị cáo một phần hình phạt, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật để các bị cáo an tâm cải tạo, sớm trở về với gia đình và trở thành công dân có ích cho xã hội. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Hận Quốc N1 với lý do hiện nay vợ bị cáo đang mang thai. Tuy nhiên, ngoài lời khai của bị cáo thì không có tài liệu chứng cứ nào chứng minh nên hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận.

[4] Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra thu giữ 01 (Một) bình nhựa đa giác màu trắng, có nắp bằng nhựa màu trắng, cao 10cm, bên trên nắp có đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng, dài 27,5cm, đường kính 0,5cm; một lỗ gắn ống thủy tinh hình cong, màu trắng, đường kính 0,5cm, một đầu ống thủy tinh có hình bầu trong, trên bầu có đục lỗ; 01 (Một) túi nilong màu trắng, có khóa miệng màu đỏ, kích thước (02x02)cm. Xét các vật chứng nêu trên công cụ dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản đề ngày 28/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã N với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa).

[5] Một số nội dung khác:

[5.1] Đối với thanh niên bán ma túy cho Lê Hận Quốc N1 (Hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch); Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh K tiếp tục xác minh làm rõ, khi đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

[5.2] Đối với bà Huỳnh Thị C không biết các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà mình nên không cấu thành tội phạm.

[6] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Trung T, Lê Hận Quốc N1, Trần Lê Nguyên Q, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với Nguyễn Trung T. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 08 (T2) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/12/2024.
  2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với Lê Hận Quốc N1. Xử phạt bị cáo Lê Hận Quốc N1 08 (T2) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/12/2024.
  3. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với Trần Lê Nguyên Q. Xử phạt bị cáo Trần Lê Nguyên Q 08 (T2) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/12/2024.
  4. Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, tịch thu, tiêu hủy:
    • 01 (Một) bình nhựa đa giác màu trắng, có nắp bằng nhựa màu trắng, cao 10cm, bên trên nắp có đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng, dài 27,5cm, đường kính 0,5cm; một lỗ gắn ống thủy tinh hình cong, màu trắng, đường kính 0,5cm, một đầu ống thủy tinh có hình bầu trong, trên bầu có đục lỗ;
    • 01 (Một) túi nilong màu trắng, có khóa miệng màu đỏ, kích thước (02x02)cm.

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản đề ngày 28/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã N với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa).

  5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Trung T, Lê Hận Quốc N1, Trần Lê Nguyên Q mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Kiến nghị: Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh K tiếp tục điều tra, xác minh đối tượng là người thanh niên đã bán ma túy cho Lê Hận Quốc N1 (Hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch), đề nghị xem xét xử lý trách nhiệm hình sự, nếu đủ căn cứ.
  7. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh Khánh Hòa;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Ninh Hòa;
  • - Trại giam Công an tỉnh Khánh Hòa;
  • - Chi cục THADS thị xã Ninh Hòa;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu án văn, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA - TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 37/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA - TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trung T và đồng phạm "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger