|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC TỈNH LẠNG SƠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2025/HS-ST
Ngày 09 - 4 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bẩy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Triệu Thu Lương.
- Ông Hoàng Mạnh Sằn.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Quỳnh Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Huê - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Linh Văn H, sinh ngày 01 tháng 02 năm 1971 tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Nùng, giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Linh Văn T và bà Vy Thị M (đã chết); có vợ là Triệu Thị N, sinh năm 1967 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 30/8/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” bằng bản án số 64/HSST(đã được xóa án tích); bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/12/2024, tạm giam từ ngày 31/12/2024 tại Phân trại tạm giam Khu vực huyện C, PC11 Công an tỉnh L đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Linh Văn L, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Người đại diện theo uỷ quyền của anh Linh Văn L: Chị Dương Thị Đ, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 00 phút ngày 23/12/2024, Công an xã X chủ trì phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm Hình sự - Kinh tế - Ma túy, Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn và Đồn Biên phòng B làm nhiệm vụ tại khu vực thôn Bản Ranh, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Tiến hành kiểm tra đối với Linh Văn H và phát hiện phát hiện trong gấu quần bên trái đang mặc có cất giấu 02 gói nilon màu đen, bên trong đều chứa chất bột màu trắng (nghi là chất ma túy). Linh Văn H khai nhận: Bản thân Linh Văn H là người nghiện ma túy từ năm 2019 cho đến nay. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 15 giờ ngày 23/12/2024, Linh Văn H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12D1- 300.87 đi từ nhà ra khu vực chợ Đ1 thuộc phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn để tìm mua ma túy. Tại đây, bị cáo nhờ một người đàn ông lái xe ôm (không rõ họ tên, địa chỉ) mua hộ 200.000 đồng tiền ma túy với mục đích để sử dụng. Người đàn ông nhận tiền của bị cáo rồi đi đâu đó khoảng 10 phút rồi quay lại đưa cho H 02 gói ma túy Heroine. Linh Văn H nhận ma túy và cất ma túy vào trong gấu quần bên trái đang mặc để về nhà thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ đưa về trụ sở Công an xã X để điều tra, xác minh làm rõ; thu giữ của bị cáo 02 gói giấy nilon màu đen, bên trong đều chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma túy Heroine; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 12D1-300.87.
Tại Kết luận giám định số: 45/KL-KTHS ngày 26/12/2024 của phòng K, Công an tỉnh L kết luận: Chất bột màu trắng có trong 02 gói nilon màu đen gửi giám định đều là chất ma túy Heroine, có khối lượng 0,295 gam (đã trừ bì).
Tại Bản cáo trạng số 31/CT-VKS-CL, ngày 04/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Linh Văn H về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như Cáo trạng đã truy tố. Đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Dương Thị Đ trình bày, chị được anh L uỷ quyền cho sử dụng xe hằng ngày, hiện anh L không có nhà. Quá trình sử dụng, chị không biết bị cáo dùng xe vào việc phạm tội. Chị đề nghị được trả lại chiếc xe cho anh L mà hiện chị đang quản lý theo uỷ quyền.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Linh Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Linh Văn H từ 18 đến 30 tháng tù và không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề
3
nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy vật chứng là số ma tuý còn lại sau giám định và vật chứng không có giá trị sử dụng. Trả lại cho anh Linh Văn L 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda có BKS: 12D1-300.87 đã qua sử dụng (thông qua người đại diện theo uỷ quyền sử dụng); bị cáo Linh Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người đại diện theo uỷ quyền của anh L, chị Dương Thị Đ không có ý kiến tranh luận, nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thấy lỗi lầm của bản thân, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo phù hợp với các chứng cứ khác và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên được xác định là hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Linh Văn L vắng mặt tại phiên tòa, nhưng Hội đồng xét xử xét thấy, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ xác định: Linh Văn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, có tổng khối lượng 0,295 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Linh Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của bị cáo và để có mức án phù hợp, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi nghiêm trọng với lỗi cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, hành vi này phải bị tuyên là có tội và chịu hình phạt. Để có mức hình phạt phù hợp với hành vi, Hội đồng xét xử đánh giá các tình tiết về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng:
[5] Về nhân thân, bị cáo là người nghiện ma tuý, đã từng bị xử lý về hình sự được xác định là nhân thân xấu; về tình tiết tăng nặng, ngoài tình tiết tăng nặng định khung, bị cáo không có tình tiết tăng nặng khác; về tình tiết giảm nhẹ,
4
bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ là Linh Văn T được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba vì có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo Linh Văn H ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ mới đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo biên bản xác minh có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa thể hiện bị cáo nghề nghiệp lao động tự do thu nhập không ổn định, là người nghiện ma túy, nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại sau giám định và vật chứng không có giá trị sử dụng. Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda có BKS: 12D1-300.87 đã qua sử dụng, là tài sản của anh L1 Văn Long không liên quan đến vụ án, và anh Linh Văn L không có lỗi trong việc để bị cáo sử dụng đi mua ma tuý, cần trả lại cho anh Linh Văn L (người sử dụng theo uỷ quyền là chị Dương Thị Đ).
[9] Đối với người đàn ông mua hộ ma túy cho Linh Văn H nhưng không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về án phí: Bị cáo Linh Văn H bị kết án, nên phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[11] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[12] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
5
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 292; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Linh Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Linh Văn H 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/12/2024. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì được niêm phong theo quy định, bên trong có 01 (một) gói giấy đựng 0,248 gam Heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và các vỏ bao gói (cũ).
- - Trả lại cho anh Linh Văn L 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda có BKS: 12D1-300.87 đã qua sử dụng (thông qua người sử dụng theo uỷ quyền là chị Dương Thị Đ).
(Các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn và được ghi chi tiết tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/02/2025).
- Về án phí: Buộc bị cáo Linh Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Linh Văn H có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Bẩy |
Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 37/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LINH VĂN H - TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
