|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Q. HẢI CHÂU – TP. ĐÀ NẴNG |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
|
|
|
Bản án số: 37/2025/HS-ST Ngày: 26/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Cúc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Thanh Trà
Ông Phạm Công Lương
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lành - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Tường Vy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 và ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 156/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:
- NGUYỄN THANH L, tên gọi khác: Ú. Sinh ngày: 10/04/1995, tại thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: K N, tổ I, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam. Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Nguyễn Văn Đ (c) và bà Trần Thị H (s). Gia đình có 04 người con, bị cáo là con thứ 04. Vợ: Đinh Thị Mỹ H1 (sinh năm: 1992) và có 01 con (sinh năm: 2016).
Tiền án, tiền sự: Chưa
Nhân thân: Bản án số 147/2024/HSST ngày 21/12/2024, của TAND quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, xử phạt Nguyễn Thanh L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 01/7/2024. Có mặt tại phiên tòa.
TRẦN PHƯỚC T, tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 25/12/1995, tại thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Nơi ĐKHKTT: K N, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Chỗ ở hiện tại: P, chung cư P, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam. Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Trần Hạnh P (c) và bà Nguyễn Thị Thanh T (s). Bị cáo là con duy nhất. Vợ: Nguyễn Thị Thanh T (sinh năm: 1998) và có 01 con (sinh năm: 2018)
Tiền án, tiền sự: Chưa
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 30/6/2024. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 30.6.2024, tại trước nhà số A L, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ phát hiện Trần Phước T1 điều khiển xe môtô BKS: 43D1-235.22 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện, bắt quả tang, T1 cất giấu trong túi áo khoác phía bên phải đang mặc một gói giấy trắng, bên trong chứa một gói nilông kích thước khoảng (4x6)cm chứa tinh thể rắn màu trắng. T1 khai nhận đây là ma túy T1 mua của Nguyễn Thanh L về để sử dụng.
Vật chứng thu giữ:
- 01 gói giấy trắng;
- 01 gói nilông kích thước khoảng (4x6)cm chứa tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong, ký hiệu: A;
- 01 điện thoại di động Iphone màu đen, gắn sim: 0782.557.341; imei: 350401985412887;
- 01 xe môtô Liberty màu xanh, gắn BKS: 43D1-235.22, số khung: 4053810, số máy: 119600, dung tích: 124cm³;
- 02 đĩa CD chứa dữ liệu ghi hình có âm thanh quá trình hỏi cung bị can Nguyễn Thanh L, Trần Phước T1 (bút lục: 9-15; 137-138; 226-227).
Đến khoảng 23 giờ 25 phút ngày 30.6.2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thanh L tại K N, tổ I, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng, phát hiện, thu giữ của L:
- 01 gói nilong không rõ hình dạng bên trong có chứa các tinh thể rắn màu trắng. Được niêm phong, ký hiệu: B;
- 01 bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy đá gồm chai nhựa, bên trên nắp chai có đục hai lỗ gắn tẩu thủy tỉnh và ống hút nhựa;
- 30 bao nilông màu đen kích thước (2,5x2,5) cm chưa qua sử dụng;
- 15 bao nilông trắng kích thước khoảng (4x6) cm chưa qua sử dụng,
- 10 bao nilông trắng;
- 01 tờ tiền 50.000 đồng được cuộn tròn và cố định bằng băng keo, một đầu có gắn ống hút nhựa;
- 01 khẩu súng bằng kim loại, màu đen, có chữ: XIAO YUE LIANG, được niêm phong, ký hiệu: S;
- 10 viên đạn;
- 01 thanh kim loại có hình dạng đao, cán gỗ, được niêm phong, ký hiệu: K;
- 920.000 đồng;
- 01 điện thoại di động Samsung màu đen, số iemi: 350320366346946, gắn sim 1:0935.044.169, sim 2: 0902.816.737;
- 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, số imei: 3590097702432652, gắn sim 1: 0789.464.903, sim 2: 0932.443.846;
- 01 xe môtô Suzuki Viva BKS 43H2-4151, số khung BE42FVN114717, số máy: E418VN114717, dung tích 110 cm³.
Biên bản kiểm tra điện thoại:
- Điện thoại di động N màu xanh, số imei: 3590097702432652, gắn sim 1: 0789.464.903 của Nguyễn Thanh L và điện thoại di động Iphone màu đen, gắn sim: 0782.557.341 của Trần Phước T1, phát hiện cuộc gọi đi, đến giữa L và T1 trong khoảng thời gian từ 12 giờ 26 phút đến 13 giờ 21 phút ngày 30.6.2024 liên quan đến việc T1 mua ma tuý từ L;
- Trong ứng dụng tin nhắn của điện thoại di động Iphone màu đen, gắn sim: 0782.557.341 của Trần Phước T1 thể hiện T1 nhắn địa điểm giao, nhận ma tuý vào ngày 30.6.2024 với L.
- Điện thoại di động Redmi, gắn sim số 0788.619.331 của Trần Phong B (sinh năm: 1989; trú: F N, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng) phát hiện:
- Cuộc gọi đi, đến với số điện thoại 0789.464.xxx của Nguyễn Thanh L trong ngày 21, 23.6.2024 về việc B mua ma tuý của L;
- Trong ứng dụng ngân hàng V số tài khoản 796484873 của B thể hiện 02 giao dịch chuyển tiền mua ma tuý vào các ngày 21,23.6.2024 đến tài khoản ngân hàng 00005183551 mang tên N1 (L khai đây là tài khoản được bạn quen ngoài xã hội cho sử dụng).
Theo Kết luận giám định số: 533/KL-KTHS ngày 08.7.2024 của Phòng K1 Công an thành phố Đ, kết luận: Tinh thể rắn màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A,B gửi đi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng mẫu A: 2,410 gam; mẫu B: 0,184 gam.
Theo Kết luận giám định số: 587/KL-KTHS ngày 24.7.2024 của Phòng K1 Công an thành phố Đ, kết luận:
- Khẩu súng gửi giám định kí hiệu S1 là súng ngắn ở quay tự chế, còn sử dụng được, có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng, thuộc danh mục vũ khí quân dụng;
- 10 viên đạn gửi giám định kí hiệu S2 là đạn thể thao quốc phòng, thuộc danh mục vũ khí thể thao;
- Thanh kim loại dạng đao gửi giám định kí hiệu K là vũ khí có tính năng tác dụng tương tự vũ khí thô sơ.
H2 lại toàn bộ đối tượng giám định, gồm: Khẩu súng kí hiệu S1, 08 viên đạn kí hiệu S2, đầu đạn và vỏ đạn đã bắn thực nghiệm, viên đạn đã bắn thực nghiệm nhưng không nổ, thanh kim loại dạng đao kí hiệu K
Quá trình điều tra, xác định:
Để có tiền tiêu xài cá nhân, Nguyễn Thanh L bắt đầu mua bán trái phép ma túy đá từ cuối tháng 4 năm 2024. L mua ma tuý của một người tên Đ1 (chưa rõ nhân thân lai lịch), giao, nhận ma tuý tại khu vực đường C - Quảng Ngãi (thuộc xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam). Sau khi mua ma túy về, L phân chia, cất giấu trong phòng ngủ và bán cho các đối tượng sau:
Bán cho Trần Phước T1 được 04 lần:
- Lần 1: Vào ngày 30.4.2024, L bán ma túy đá của T1 với giá 500.000 đồng, L thu lợi 250.000 đồng;
- Lần 2: Vào ngày 07.5.2024, L bán ma túy đá của T1 với giá 500.000 đồng, L thu lợi 250.000 đồng;
- Lần 3: Vào ngày 15.5.2024, L bán ma túy đá của T1 với giá 1.000.000 đồng, L thu lợi 500.000 đồng;
- Lần 4: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 30.6.2024, T1 sử dụng số 0782.551.341 gọi điện cho L qua số 0789.464.903 để hỏi mua 2,5 gam ma túy đá, L báo giá 1.000.000 đồng. T1 hẹn đến quán cà phê gần ngã tư L và Vũ Đình L1 để giao dịch. Khi đến nơi, L nói T1 đi theo đến vòng xuyến Ngô Q và Yết K để nhận ma túy, đến nơi T1 nói chỉ còn 950.000 đồng, L đồng ý rồi giao gói ma túy đá cho T1, thu lợi 450.000 đồng.
Bán cho Trần Phong B được 03 lần:
- Lần 1: Ngày 30.5.2024, B sử dụng số 0788.619.331 gọi điện cho L qua số 0789.464.903 mua 400.000 đồng ma túy. L đồng ý rồi hẹn đến quán C1, đường L, thành phố Đà Nẵng. B đưa L 400.000 đồng và nhận ma tuý. L thu lợi 200.000 đồng.
- Lần 2, 3: Tương tự như lần 1, ngày 21, 23.6.2024, L bán cho B 400.000 đồng ma tuý. B dùng tài khoản ngân hàng V số [...] của B để chuyên tiên 400.000 đồng cho L vào tài khoản ngân hàng T3 mang tên N1, L thu lợi 200.000 đồng/ lần.
Kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể: Nguyễn Thanh L, Trần Phước T1, Trần Phong B dương tính với chất ma tuý.
Xử lý vật chứng:
- Chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu toàn bộ vật chứng thu giữ để bảo quản trong giai đoạn xét xử (Đối với khẩu súng đã chuyển phòng PA09 để khởi tố vụ án Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng).
- Lưu giữ theo hồ sơ vụ án: 02 đĩa CD chứa dữ liệu ghi hình có âm thanh quá trình hỏi cung bị can Nguyễn Thanh L, Trần Phước T1.
Tại bản Cáo trạng số 15CT-VKS ngày 06/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn Thanh L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự và Trần Phước T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị HĐXX căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và Trần Phước T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị:
- Đối với bị cáo Nguyễn Thanh L: Áp dụng Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm b khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đề nghị xử phạt Nguyễn Thanh L từ 8 năm 06 tháng đến 09 năm tù.
- Đối với bị cáo Trần Phước T1: Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đề nghị xử phạt Trần Phước T1 từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, đề nghị:
Tịch thu tiêu huỷ:
- Mẫu vật còn lại sau khi trích làm giám định và toàn bộ vỏ bao gói mẫu được hoàn trả kèm theo “Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định” ngày 02.7.2024.
- 08 viên đạn kí hiệu S2, đầu đạn và vỏ đạn đã bắn thực nghiệm, viên đạn đã bắn thực nghiệm nhưng không nổ, thanh kim loại dạng đao kí hiệu K.
- 01 gói giấy trắng;
- 30 bao nilông màu đen kích thước (2,5x2,5) cm chưa qua sử dụng;
- 15 bao nilông trắng kích thước khoảng (4x6) cm chưa qua sử dụng,
- 10 bao nilông trắng;
- 01 ống hút nhựa;
- 01 bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy đá gồm chai nhựa, bên trên nắp chai có đục hai lỗ gắn tẩu thủy tỉnh và ống hút nhựa;
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
- Tờ tiền 50.000 đồng L sử dụng làm dụng cụ sử dụng ma tuý;
- 920.000 đồng L có được từ việc bán ma tuý cho T1;
- 1.630.000 đồng thu lợi bất chính;
- 01 điện thoại di động Iphone màu đen, gắn sim: 0782.557.341; imei: 350401985412887;
- 01 điện thoại di động Samsung màu đen, số iemi: 350320366346946, gắn sim 1: 0935.044.169, sim 2: 0902.816.737;
- 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, số imei: 3590097702432652, gắn sim 1: 0789.464.903, sim 2: 0932.443.846;
Trả lại tài sản không liên quan đến việc phạm tội:
- Bà Trần Thị H (sinh năm: 1960; trú: K N, P. T, Q. S, TP .): 01 xe môtô nhãn hiệu Suzuki Viva, màu xanh, gắn BKS 43H2-4151, số khung BE42FVN114717, số máy: E418VN114717, dung tích 110 cm³, hai bánh.
- Chị Nguyễn Thị Thanh T (sinh năm: 1998, trú: Phòng 203, chung cư P, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng): 01 xe môtô nhãn hiệu Piaggio Liberty, màu xanh, gắn BKS: 43D1-235.22, số khung: 4053810, số máy: 119600, dung tích: 124cm³, hai bánh.
- Lưu giữ theo hồ sơ vụ án: 02 đĩa CD chứa dữ liệu ghi hình có âm thanh quá trình hỏi cung bị can Nguyễn Thanh L, Trần Phước T1.
Quá trình điều tra tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thanh L và bị cáo Trần Phước T1 cũng đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, rất ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát quận H, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Thanh L và bị cáo Trần Phước T1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Do cần tiền tiêu xài, Nguyễn Thanh L bắt đầu bán ma tuý từ cuối tháng 4 năm 2024. Trong khoảng thời gian từ ngày 30.4.2024 đến ngày 30.6.2024, L đã 07 lần bán trái phép chất ma tuý cho người khác, cụ thể: bán cho Trần Phước T1 04 lần, bán cho Trần Phong B 03 lần. T2 lợi bất chính số tiền 2.050.000 đồng, Đồng thời, lúc 23 giờ 25 phút ngày 30.6.2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ khám xét khẩn cấp nhà của Nguyễn Thanh L, thu giữ 0,184 gam ma tuý Methamphetamine, L cất giấu nhằm mục đích bán lại kiếm lời.
Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 30.6.2024, tại trước nhà số A L, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ bắt quả tang Trần Phước T1 đang tàng trữ 2,410 gam ma tuý Methamphetamine mua của Nguyễn Thanh L nhằm mục đích để sử dụng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự và bị cáo Trần Phước T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:
Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội nên đối với bị cáo cần phải xử phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét về những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo thì thấy:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị can Nguyễn Thanh L phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, theo điểm b khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Công an thành phố Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thanh L, Trần Phước T1, Trần Phong B về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” là có căn cứ.
Đối với:
Người thanh niên tên “Đào” bán ma tuý cho L tại khu vực đường C - Quảng Ngãi (thuộc xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam), Cơ quan CSĐT Công an quận H đã tách hành vi và tài liệu liên quan đối với hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý” chuyển đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam để tiếp tục điều tra, xử lý.
Hành vi “Tàng trữ trái phép loại vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí thô sơ” (thanh kim loại dạng đao) và “Tàng trữ trái phép vũ khí thể thao” (10 viên đạn), Chủ tịch UBND thành phố Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1836 ngày 28.8.2024
[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý các vật chứng trong vụ án, cụ thể như sau:
b. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, đề nghị:
Tịch thu tiêu huỷ:
- Mẫu vật còn lại sau khi trích làm giám định và toàn bộ vỏ bao gói mẫu được hoàn trả kèm theo “Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định” ngày 02.7.2024.
- 08 viên đạn kí hiệu S2, đầu đạn và vỏ đạn đã bắn thực nghiệm, viên đạn đã bắn thực nghiệm nhưng không nổ, thanh kim loại dạng đao kí hiệu K.
- 01 gói giấy trắng;
- 30 bao nilông màu đen kích thước (2,5x2,5) cm chưa qua sử dụng;
- 15 bao nilông trắng kích thước khoảng (4x6) cm chưa qua sử dụng,
- 10 bao nilông trắng;
- 01 ống hút nhựa;
- 01 bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy đá gồm chai nhựa, bên trên nắp chai có đục hai lỗ gắn tẩu thủy tỉnh và ống hút nhựa;
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
- Tờ tiền 50.000 đồng L sử dụng làm dụng cụ sử dụng ma tuý;
- 920.000 đồng L có được từ việc bán ma tuý cho T1;
- 1.630.000 đồng thu lợi bất chính;
- 01 điện thoại di động Iphone màu đen, gắn sim: 0782.557.341; imei: 350401985412887;
- 01 điện thoại di động Samsung màu đen, số iemi: 350320366346946, gắn sim 1: 0935.044.169, sim 2: 0902.816.737;
- 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, số imei: 3590097702432652, gắn sim 1: 0789.464.903, sim 2: 0932.443.846;
Trả lại tài sản không liên quan đến việc phạm tội:
- Bà Trần Thị H (sinh năm: 1960; trú: K N, P. T, Q. S, TP .): 01 xe môtô nhãn hiệu Suzuki Viva, màu xanh, gắn BKS 43H2-4151, số khung BE42FVN114717, số máy: E418VN114717, dung tích 110 cm³, hai bánh.
- Chị Nguyễn Thị Thanh T (sinh năm: 1998, trú: Phòng 203, chung cư P, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng): 01 xe môtô nhãn hiệu Piaggio Liberty, màu xanh, gắn BKS: 43D1-235.22, số khung: 4053810, số máy: 119600, dung tích: 124cm³, hai bánh.
Lưu giữ theo hồ sơ vụ án: 02 đĩa CD chứa dữ liệu ghi hình có âm thanh quá trình hỏi cung bị can Nguyễn Thanh L, Trần Phước T1.
[7] Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm b khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 của Bộ luật hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh L 8 (tám) năm 6 (sáu) tháng tù. Bị cáo Nguyễn Thanh L phải chấp hành hình phạt của bản án số 147/2024/HS-ST ngày 21/12/2024 của Toà án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt của hai bản án, Nguyễn Thanh L phải chấp hành 11 (mười một) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.
2. Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Trần Phước T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Phước T1 02 năm 03 tháng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/6/2024.
5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên:
Tịch thu tiêu huỷ:
- Mẫu vật còn lại sau khi trích làm giám định và toàn bộ vỏ bao gói mẫu được hoàn trả kèm theo “Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định” ngày 02.7.2024.
- 08 viên đạn kí hiệu S2, đầu đạn và vỏ đạn đã bắn thực nghiệm, viên đạn đã bắn thực nghiệm nhưng không nổ, thanh kim loại dạng đao kí hiệu K.
- 01 gói giấy trắng;
- 30 bao nilông màu đen kích thước (2,5x2,5) cm chưa qua sử dụng;
- 15 bao nilông trắng kích thước khoảng (4x6) cm chưa qua sử dụng,
- 10 bao nilông trắng;
- 01 ống hút nhựa;
- 01 bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy đá gồm chai nhựa, bên trên nắp chai có đục hai lỗ gắn tẩu thủy tỉnh và ống hút nhựa;
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
- Tờ tiền 50.000 đồng L sử dụng làm dụng cụ sử dụng ma tuý;
- 920.000 đồng L có được từ việc bán ma tuý cho T1;
- 1.630.000 đồng thu lợi bất chính;
- 01 điện thoại di động Iphone màu đen, gắn sim: 0782.557.341; imei: 350401985412887;
- 01 điện thoại di động Samsung màu đen, số iemi: 350320366346946, gắn sim 1: 0935.044.169, sim 2: 0902.816.737;
- 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, số imei: 3590097702432652, gắn sim 1: 0789.464.903, sim 2: 0932.443.846;
Trả lại tài sản không liên quan đến việc phạm tội:
- Trả lại cho bà Trần Thị H: 01 xe môtô nhãn hiệu Suzuki Viva, màu xanh, gắn BKS 43H2-4151, số khung BE42FVN114717, số máy: E418VN114717, dung tích 110 cm³, hai bánh.
- Trả lại cho chị Nguyễn Thị Thanh T 01 xe môtô nhãn hiệu Piaggio Liberty, màu xanh, gắn BKS: 43D1-235.22, số khung: 4053810, số máy: 119600, dung tích: 124cm³, hai bánh.
(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07 tháng 11 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu).
6. Về án phí:
Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án” của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Thanh L và Trần Phước T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
7. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 21/3/2025). Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao (hoặc niêm yết) bản án.
1. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Minh C |
Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP ĐÀ NẴNG về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 37/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
