|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21/3/2025 Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;
Ông Nguyễn Văn Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp Viện Kiểm sát không tham gia phiên tòa.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 41/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Danh Thị Út Đ, sinh năm: 2000. Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Võ Thành S, sinh năm: 1997. Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Danh Thị Út Đ trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2017, chị và anh Võ Thành S tự tìm hiểu, yêu thương nhau, tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất tổ chức lễ cưới, chung sống với nhau được một thời gian, nhưng đến thời gian sau mới đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân (UBND) xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 30 ngày 29/3/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị về sinh sống tại ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng vui vẻ, hạnh phúc, đến thời gian sau giữa chị và anh S phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vả, không còn tình cảm với nhau, dù đã cố gắng hàn gắn, nhưng bất thành và đã ly thân với nhau. Vì các lý do trên, chị nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Võ Thành S.
- Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, chị và anh S có một người con chung tên Võ Thị Thanh X, sinh ngày 28/6/2018. Hiện nay, con đang sinh sống cùng với anh S. Vì vậy, khi ly hôn chị đồng ý giao con chung cho anh S được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành, chị không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Út Đ xác nhận quá trình chung sống giữa chị và anh S không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bị đơn anh Võ Thành S:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho ông Võ Văn Ú là cha ruột của S nhận thay và cam kết sẽ chuyển thông tin đến anh S, nhưng anh S đều vắng mặt, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh S đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, ông Ú cho biết, anh S cũng đồng ý ly hôn với chị Út Đ và yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt anh S, do anh S bận đi làm ghe biển, nên không thể có mặt tại Tòa án
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện chị Danh Thị Út Đ yêu cầu được ly hôn và nuôi con với anh Võ Thành S. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn anh Võ Thành S có nơi cư trú tại ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Danh Thị Út Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Võ Thành S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX có cơ sở xác định: Chị Út Đ và anh S tự tìm hiểu, yêu thương nhau, tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất tổ chức lễ cưới, chung sống với nhau được một thời gian mới đăng ký kết hôn và được UBND xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 30 ngày 29/3/2019. Như vậy, hôn nhân giữa chị Út Đ với anh S là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu của chị Ú Được về việc xin ly hôn với anh S thấy rằng: Trong quá trình chung sống giữa chị Út Đ và anh S có phát sinh mâu thuẫn, mà theo chị Ú Được cho rằng do chị và anh S bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cãi vả, không còn tình cảm với nhau, mặc dù đã cố gắng hàn gắn, nhưng bất thành và đã ly thân với nhau. Chị Út Đ cũng xác định trong thời gian chị và anh S sống ly thân với nhau, thì giữa chị và anh S không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, cũng không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án, tiến hành giải thích pháp luật và động viên chị Út Đ bỏ qua mọi chuyện, cho anh S thêm cơ hội để đoàn tụ gia đình và nuôi dạy con cái, nhưng chị Út Đ vẫn kiên quyết ly hôn với anh S. Đồng thời Tòa án cũng tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh S nhiều lần, thông qua người nhận là ông Võ Văn Ú - cha ruột của anh S và cam kết sẽ chuyển thông tin đến anh S, nhưng anh S đều vắng mặt và không thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, điều này chứng tỏ anh S cũng không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị Út Đ.
Từ đó thấy được mối quan hệ hôn nhân giữa chị Út Đ với anh S đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị Ú Được yêu cầu được ly hôn với anh S là có cơ sở.
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX chấp nhận cho chị Ú Được được ly hôn với anh S.
[3.2] Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, chị và anh S có một người con chung tên Võ Thị Thanh X, sinh ngày 28/6/2018. Hiện nay, con đang sinh sống cùng với anh S. Vì vậy, khi ly hôn chị đồng ý giao con chung cho anh S được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành, chị không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
HĐXX xét thấy, từ khi chị Ú Được và anh S sống ly thân với nhau cho đến nay, thì anh S là người chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu X và hiện cháu X vẫn phát triển bình thường. Vì vậy, để đảm bảo ổn định cuộc sống và nhằm giúp cháu X phát triển tốt về mọi mặt, nên tiếp tục giao cho anh S được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu X đến trưởng thành là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét.
[3.4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Út Đ xác nhận giữa chị và anh S không có tài sản chung và nợ chung, nên chị Ú Được không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết.
[4] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì chị Út Đ phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Danh Thị Út Đ được ly hôn với anh Võ Thành S.
- Về quan hệ con chung: Giao cháu tên Võ Thị Thanh X, sinh ngày 28/6/2018 cho anh Võ Thành S được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
- - Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
- - Về quyền thăm nom, chăm sóc con chung: Trong thời gian anh Võ Thành S nuôi con; chị Danh Thị Út Đ được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Danh Thị Út Đ xác nhận giữa chị và anh Võ Thành S không tài sản chung và nợ chung, nên chị không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Danh Thị Út Đ phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Út Đ đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009913 ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Chị Danh Thị Út Đ không phải nộp thêm.
- Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Nguyễn Thanh Huy |
Bản án số 37/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 37/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Danh Thị Út Đ kiện Võ Thành S
