Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/HS-ST

Ngày: 14-3-2025

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Vũ Tiến Thịnh.
  2. Bà Trần Thị Thu Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Đặng Cao Cường – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Lưu Văn C, sinh ngày 14/6/1976 tại tỉnh Thái Bình;

Nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 04/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Lưu Xuân T và bà Nguyễn Thị T1; Bị cáo có vợ là Phạm Hồng H, có 02 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án số 52/2017/HSST ngày 25/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/10/2018, chấp hành xong án phí ngày 14/11/2017.

Bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/12/2024 đến ngày 15/12/2024 chuyển tạm giam đến nay. Có mặt.

Người chứng kiến:

  • + Anh Đào Minh T2, sinh năm 1998, trú tại số nhà B, đường B, tổ I, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
  • + Ông Lê Xuân T3, sinh năm 1962, trú tại số nhà A, ngõ F, đường B, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

*Điểm cầu thành phần:

  1. Những người tiến hành tố tụng:
  2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lương Duy H1 – Kiểm sát viên.

  3. Những người tham gia tố tụng:
  4. Bị cáo Lưu Văn C. Có mặt.

  5. Những người tham gia tố tụng khác: Ông Hoàng Minh Đ và ông Lương Đức V- Cán bộ phân trại tạm giam khu vực thành phố - Trại tạm giam Công an tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 06/12/2024, Lưu Văn C đi xe ôm của người không quen biết từ chỗ ở của mình đến khu vực chợ B, tổ D, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì xuống xe đi bộ một đoạn thì gặp và mua của một người nam giới khoảng 20 tuổi không biết tên, địa chỉ 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Sau đó, C cầm gói ma túy ở trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ tìm chỗ để sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, C đi bộ đến khu vực đường L, thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác Công an thành phố T phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Đào Minh T2 và ông Lê Xuân T3, C đã tự giác đưa từ lòng bàn tay trái của mình ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy tráng kim màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đó là gói Heroine của C vừa mua với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng gửi đi giám định. Kết quả giám định đó là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1401 gam. Sau đó, tổ công tác đưa C và mời những người chứng kiến về trụ sở Công an xã V, thành phố T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định.

Bản kết luận giám định số 1777/KL-KTHS ngày 10/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu vật quản lý của Lưu Văn C gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,1401 gam (không phẩy một nghìn bốn trăm linh một gam). Heroin STT: 09 Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 và Nghị định 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như trên. Lời khai của người chứng kiến là anh Đào Minh T2 và ông Lê Xuân T3 đều thể hiện như lời khai của bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKSTPTB ngày 18/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Lưu Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 35 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2025. Đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung phạt bị cáo từ 5 đến 7 triệu đồng sung Ngân sách nhà nước. Vật chứng của vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn trả sau giám định. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét để được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người chứng kiến và còn được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ lập ngày 06/12/2024 tại trụ sở Công an xã V, thành phố T; Kết luận giám định số 1777/KL-KTHS ngày 10/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 11 giờ 30 phút ngày 06/12/2024, tại khu vực đường L, thuộc địa phận thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang Lưu Văn C có hành vi tàng trữ trái phép trong người 01 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1401 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân.

[3] Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:... c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ... 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.” Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như vậy cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước ta, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bị cáo đã nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật.

[5] Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị đưa ra xét xử nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội nên cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Về hình phạt bổ sung: cần áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự phạt tiền đối với bị cáo để sung ngân sách nhà nước.

[6] Về vật chứng: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy số ma túy được hoàn trả sau giám định vì là vật cấm tàng trữ, lưu hành.

[7] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua của một người nam giới khoảng 20 tuổi tại khu vực chợ B, tổ D, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình nhưng không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lưu Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lưu Văn C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/12/2024.
  3. Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Lưu Văn C 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

  4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,0923 gam ma túy được hoàn trả sau giám định và toàn bộ bao gói được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1777/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T.
  5. (Vật chứng có đặc điểm như trong Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình ngày 18/02/2025).

  6. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 14/3/2025.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Thái Bình;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 37/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồi 11 giờ 30 phút ngày 06/12/2024, tại khu vực đường L, thuộc địa phận thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang Lưu Văn C có hành vi tàng trữ trái phép trong người 01 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1401 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger