|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2025/HNGĐ- ST Ngày: 12-03-2025 V/v ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦY NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huân.
- Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Phạm Văn Sóng.
- Ông Bùi Đình Hùng.
- - Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Bích Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủy Nguyên.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 362/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2024 về ly hôn và nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2025/QÐST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T; nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường T, thành phố T, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Thế M; nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường T, thành phố T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Chị Hoàng Thị T là nguyên đơn, khởi kiện với nội dung chị và anh Nguyễn Thế M kết hôn trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, nay là xã B, thành phố T, thành phố Hải Phòng vào ngày 20 tháng 8 năm 2015. Sau lễ cưới, chị T về chung sống cùng anh M tại thôn C, xã T, nay là tổ dân phố C, phường T, thành phố T, thành phố Hải Phòng. Cuộc sống chung vợ chồng hòa thuận và có 02 con chung.
Đến giữa năm 2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng và xảy ra cãi mắng xúc phạm nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, bất đồng trong sinh hoạt. Chị T đã về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân nhau từ giữa năm 2024 cho đến nay. Mâu thuẫn đã được gia đình động viên hòa giải như vẫn không được cải thiện. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ nên chị T giữ nguyên đề nghị được ly hôn anh Nguyễn Thế M. Chị và anh M có hai con chung tên Nguyễn Thế Đ, sinh ngày 20 tháng 01 năm 2014 và Nguyễn Thế T1, sinh ngày 29 tháng 7 năm 2015. Khi ly hôn, chị T đề nghị để anh M được trực tiếp nuôi các con chung. Cấp dưỡng nuôi con do chị và anh M tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, chị và anh M không có tài sản chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Thế M là bị đơn, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác, song đến ngày mở phiên tòa, anh M vẫn không có văn bản trình bày ý kiến về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản chung.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Về thẩm quyền giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên đã tuân theo đúng quy định của pháp luật quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Hoàng Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Thế M. Giao các con chung tên Nguyễn Thế Đ và Nguyễn Thế T1 cho anh Nguyễn Thế M trực tiếp nuôi dưỡng. Nguyên đơn nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết
Chị Hoàng Thị T có đơn xin ly hôn với anh Nguyễn Thế M. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Thế M hiện đang cư trú tại tổ dân phố C, phường T, thành phố T, thành phố Hải Phòng. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
[2] Về sự vắng mặt của bị đơn
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa, song vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Về yêu cầu của chị Hoàng Thị T ly hôn với anh Nguyễn Thế M
Chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Thế M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do đó, việc kết hôn giữa chị T và anh M là hợp pháp. Qua lời khai của đương sự và tài liệu xác minh tại địa phương, tại gia đình anh Nguyễn Thế M thống nhất thể hiện, đời sống chung của chị T và anh M đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hòa hợp và bất đồng trong sinh hoạt, kinh tế chung gia đình không ổn định dẫn đến vợ chồng xảy ra cãi mắng xúc phạm nhau. Do mâu thuẫn, chị T đã đôi lần về nhà bố mẹ đẻ ở nhưng sau đó vợ chồng lại đoàn tụ; đến khoảng giữa năm 2024 thì mâu thuẫn trở nên trầm trọng, chị T và anh M đã sống ly thân nhau từ đó cho đến nay. Gia đình đã tham gia hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không được cải thiện. Tại các buổi hòa giải và tại phiên tòa, chị T giữ nguyên đề nghị được ly hôn anh M; anh M biết việc chị T làm đơn ly hôn nhưng không đến hòa giải theo quy định. Vợ chồng đã sống ly thân nhau, không ai còn quan tâm đến ai. Từ đây xác định mâu thuẫn hôn nhân giữa chị T và anh M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T đề nghị được ly hôn với anh M.
[4] Về người trực tiếp nuôi con khi ly hôn và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con
Chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Thế M có hai con chung tên Nguyễn Thế Đ, sinh ngày 20 tháng 01 năm 2014 và Nguyễn Thế T1, sinh ngày 29 tháng 7 năm 2015. Hội đồng xét xử xét: Lời khai của các đương sự, tài liệu xác minh tại gia đình và tại địa phương thống nhất thể hiện, từ khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân đến nay, các con chung Nguyễn Thế Đ và Nguyễn Thế T1 vẫn đang ở cùng với anh M và học tập ổn định trên địa bàn phường T. Các con chung trình bày nguyện vọng được tiếp tục ở cùng bố trong trường hợp bố mẹ ly hôn. Chị T có lời khai đề nghị để anh M tiếp tục nuôi dưỡng con chung, anh M không trình bày ý kiến về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Vì vậy, để ổn định đời sống của các con chung và để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con cái, căn cứ Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cho anh Nguyễn Thế M trực tiếp nuôi dưỡng các con chung tên Nguyễn Thế Đ và Nguyễn Thế T1 là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[5] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con:
Cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con. Chị Hoàng Thị T không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con; anh Nguyễn Thế M không có quan điểm trình bày về cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này.
[6] Về tài sản chung, chị Hoàng Thị T trình bày không có tài sản chung và không đề nghị Tòa án giải quyết. Mặt khác, anh Nguyễn Thế M không có ý kiến gì về tài sản chung, do đó Hội đồng xét xử không xem xét về tài sản chung trong vụ án này.
[7] Về án phí, chị Hoàng Thị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35, Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị T:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Thế M.
-
Về con chung:
Giao cho anh Nguyễn Thế M trực tiếp nuôi dưỡng các con chung Nguyễn Thế Đ, sinh ngày 20 tháng 01 năm 2014 và Nguyễn Thế T1, sinh ngày 29 tháng 7 năm 2015 đến khi các con chung thành niên và có khả năng lao động, trừ trường hợp có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ với số tiền tạm ứng án phí đã nộp (ghi tại biên lai thu số 0010226 ngày 02/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủy Nguyên), chị Hoàng Thị T đã nộp đủ án phí.
-
Về quyền kháng cáo:
Chị Hoàng Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Anh Nguyễn Thế M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huân |
Bản án số 37/2025/HNGĐ- ST ngày 12/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 37/2025/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Hoàng Thị T xin ly hôn anh Nguyễn Thế M
