|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU TỈNH SƠN LA Bản án số: 37/2025/HNGĐ-ST Ngày: 12-3-2025 V/v: Ly hôn, nuôi con chung |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Thịnh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Thiệp, bà Lý Thị Vinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phượng - Thư ký Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Bạc Cầm Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 26/2024/TLST-HNGĐ ngày 23-10-2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14-02-2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04-03-2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07-03-2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đào Thanh H, sinh năm 1995. (Vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Lường Văn T, sinh năm 1985. (Vắng mặt)
Địa chỉ nơi thường trú: T2, xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn La. Địa chỉ nơi tạm trú: TK A, xã CN, huyện MS, tỉnh Sơn La.
Địa chỉ nơi cư trú: T2, xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn La.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 22/10/2024, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đào Thanh H trình bày:
Chị Đào Thanh H và anh Lường Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện không bị ai ép buộc có đăng ký kết hôn ngày 11/11/2015 tại Ủy ban nhân dân xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn La. Vợ chồng chung sống với nhau hoà thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh T nghiện chất ma tuý, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2022, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị giải quyết ly hôn với anh Lường Văn T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Lường TN, sinh ngày 08/7/2015 và cháu Lường ĐK, sinh ngày 11/9/2017. Hiện tại hai cháu đang ở với chị H. Chị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai cháu cho đến khi trưởng thành. Chị H khai thu nhập bình quân từ nguồn buôn bán tự do khoảng 8.000.000 đồng/tháng đảm bảo để nuôi dưỡng cả hai cháu.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh Lường Văn T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Lường Văn T đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập để viết bản tự khai, tham gia phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ, tham gia phiên tòa nhưng anh vẫn cố tình vắng mặt nên không có ý kiến về việc giải quyết ly hôn.
Căn cứ khoản 3 Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, điều kiện nuôi con tại địa chỉ nơi cư trú của các đương sự và ý kiến của con chung như sau:
Trưởng T2, xã TL, huyện TC có ý kiến như sau: Anh Lường Văn T và chị Đào Thanh H kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn hợp pháp. Vợ chồng chung sống có phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân từ năm 2022 khi anh Lường Văn T nghiện chất ma tuý.
Về con chung: Chị H và anh T có 02 con chung như chị H trình bày tại Tòa án, hiện nay cả hai cháu đang do chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về tài sản chung, nợ chung: Không nắm được.
Trưởng T2, xã TL xác nhận đã giao tất cả các văn bản tố tụng, giấy triệu tập của Toà án cho anh Lường Văn T và cho biết anh T có nói rằng anh nhất trí ly hôn với chị H nhưng sẽ không đến toà án làm việc.
Tại Biên bản ghi ý kiến của cháu Lường TN, sinh ngày 08/7/2015 và Biên bản ghi ý kiến cháu Lường ĐK, sinh ngày 11/9/2017, cả hai cháu đều có ý kiến: Từ khi bố mẹ các cháu ly thân đến nay các cháu đều ở với mẹ đẻ và đều do mẹ đẻ các cháu chăm sóc. Nguyện vọng cả hai cháu nếu bố mẹ ly hôn đều xin được tiếp tục ở với mẹ.
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không cung cấp thêm chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự khác xuất trình và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.
Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, quá trình giải quyết vụ án vẫn kiên quyết ly hôn với lý do vợ chồng có nhiều mâu thuẫn gia đình không thể hàn gắn tình cảm được vì tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã rất trầm trọng, nguyện vọng xin được nuôi cả hai con chung, không yêu cầu cấp dưỡng.
Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ và giao các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Lường Văn T để tham gia phiên tòa xét xử vụ án nhưng anh T vẫn vắng mặt tại phiên tòa nhiều lần không có lý do chính đáng. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện TC phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật, xác định đúng đầy đủ tư cách tham gia tố tụng, tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ đúng quy định, đảm bảo đúng thời hạn, tống đạt đầy đủ hợp lệ các văn bản tố tụng cho đương sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Viện kiểm sát đề nghị:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đào Thanh H được ly hôn với anh Lường Văn T.
Về con chung: Giao cháu Lường TN, sinh ngày 08/7/2015 và cháu Lường ĐK, sinh ngày 11/9/2017 cho chị Đào Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lường Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Đào Thanh H yêu cầu ly hôn với anh Lường Văn T có địa chỉ nơi cư trú tại T2, xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Đào Thanh H vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Lường Văn T đã được Tòa án triệu tập tống đạt hợp lệ lần thứ ba vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thanh H và anh Lường Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không ai bị ép buộc, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn La, khi kết hôn hai bên đủ kiều kiện kết hôn theo quy định. Do đó, anh chị là vợ chồng hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hoà hợp, anh T nghiện chất ma tuý phải đi cai nghiện bắt buộc, dẫn đến mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Tình cảm vợ chồng không còn, chị H kiên quyết xin ly hôn với anh Lường Văn T.
Tòa án đã tiến hành triệu tập tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhiều lần cho bị đơn anh Lường Văn T để viết bản tự khai, tham gia phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ, tham gia phiên tòa xét xử vụ án nhưng anh T vẫn cố tình vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến về việc giải quyết ly hôn.
Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của hai vợ chồng và tại phiên tòa cho thấy cuộc sống chung vợ chồng giữa chị H anh T không hạnh phúc, mâu thuẫn kéo dài, nguyên nhân do anh T sử dụng ma tuý, vợ chồng không thể hoà hợp được, đã sống ly thân được một thời gian dài không ai quan tâm đến cuộc sống của ai dẫn đến tình cảm vợ chồng xa cách. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo hướng chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đào Thanh H.
Xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng chị H và anh T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Đào Thanh H được ly hôn với anh Lường Văn T.
[3] Về con chung: Chị H và anh T có hai con chung là cháu Lường TN, sinh ngày 08/7/2015 và cháu Lường ĐK, sinh ngày 11/9/2017. Hiện tại hai cháu đang ở với chị H. Chị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai cháu. Anh Lường Văn T không có ý kiến gì về nuôi con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Đào Thanh H hiện nay có nơi ở ổn định, có thu nhập đủ để nuôi hai con. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, chị H là người chăm sóc con, đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng các cháu về mọi mặt. Do đó cần chấp nhận ý kiến của nguyên đơn chị Đào Thanh H và quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên toà, giao cháu Lường TN và cháu Lường ĐK cho chị Đào Thanh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lường Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do không ai yêu cầu.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đào Thanh H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Lường Văn T không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết, trường hợp sau khi giải quyết ly hôn có phát sinh tranh chấp và có người yêu cầu, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
[5] Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch trong vụ án ly hôn là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đào Thanh H được ly hôn với anh Lường Văn T.
- Về con chung: Giao cháu Lường TN, sinh ngày 08/7/2015 và cháu Lường ĐK, sinh ngày 11/9/2017 cho chị Đào Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi và có khả năng lao động) hoặc đến khi có quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị H xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Anh Lường Văn T không có ý kiến. Do đó không xem xét giải quyết trong vụ án. Trường hợp sau khi giải quyết ly hôn có phát sinh tranh chấp và có người yêu cầu, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
- Về án phí: Nguyên đơn chị Đào Thanh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch trong vụ án ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0001860 ngày 23/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TC.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lường Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do không ai yêu cầu.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con (anh T) có quyền thăm nom con, không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nông Văn Thịnh |
Bản án số 37/2025/HNGĐ-ST ngày 12/03/2025 của Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 37/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: giải quyết ly hôn, nuôi con chung
