Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/HS-ST

Ngày: 27-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Anh Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Phương Hồ;
  2. Ông Nguyễn Ngọc Cảnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Quang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Trúc Phượng – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Thị Mỹ T, sinh năm: 1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Không có nơi đăng ký thường trú; nơi ở: Phòng trọ số A, nhà số A Tỉnh lộ 15, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C (đã chết) và bà Trương Thị T1, sinh năm: 1964; anh, chị, em ruột: không có; chồng: không có; con: 03 người, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2024;

Tiền án: Ngày 18/7/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 132/2022/HS-ST. Ngày 21/6/2023, bị cáo chấp hành án xong.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 13/9/2024 chuyển biện pháp ngăn chặn sang cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/9/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

  1. Ông Võ Văn M, sinh năm: 1999; địa chỉ: Số A đường B, ấp E, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
  2. Bà Trương Thị T1, sinh năm: 1964; địa chỉ: P, nhà số A Tỉnh lộ 15, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
  3. Ông Nguyễn Minh H, sinh năm: 1979; địa chỉ: Số C Sông L, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
  4. Ông Nguyễn Thành V, sinh năm: 2001; địa chỉ: Số F đường D, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 22/8/2024, Lê Thị Mỹ T đi đến khu vực cầu X thuộc xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh gặp 01 người thanh niên tên S (không rõ lai lịch) mua ma túy đá với giá 500.000 đồng. Sau đó, T mang về phòng trọ ở ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh chiết ra 01 gói ma túy đá bán lại cho Võ Văn M với giá 150.000 đồng. Số ma túy còn lại T sử dụng một mình cho đến hết. Đến ngày 08/9/2024, T tiếp tục đi đến khu vực cầu X thuộc xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh gặp S mua ma túy đá với giá 700.000 đồng. Sau đó, T mang về nhà chiết ra một ít để sử dụng một mình. Phần ma túy còn lại T chia ra thành 02 gói nylon cất giấu để sử dụng và bán lại cho người khác. Ngày 09/9/2024, T tiếp tục bán cho Võ Văn M 01 gói ma túy đá với giá 150.000 đồng. Ngày 13/9/2024, T lấy gói ma túy ra phân chia thành 02 gói nhỏ, 01 gói cất giấu trong túi màu đen, gói còn lại T cho một ít vào bộ dụng cụ sử dụng được 02 hơi thì ngưng, chất ma túy vẫn còn trong bộ dụng cụ. Phần ma túy còn lại trong gói nylon T cầm trong tay trái định mang đi cất giấu.

Vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 13/9/2024, Công an xã H phối hợp với Công an xã T và Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện C tiến hành kiểm tra hành chính nhà trọ số 1154/12 tỉnh lộ 15, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi kiểm tra phòng số 01 do Lê Thị Mỹ T thuê ở thì phát hiện T đang cầm trên tay trái 01 gói nylon chứa tinh thể. Tiếp tục kiểm tra trên gác phát hiện 01 túi da bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể và 01 cân điện tử, bên cạnh tủ quần áo có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy trong ống thủy tinh còn chứa tinh thể. T khai nhận đó là ma túy đá của T để sử dụng và bán lại cho người khác. Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T cùng tang vật.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với Lê Thị Mỹ T và Võ Văn M đều dương tính với ma túy tổng hợp (loại Methamphetamine).

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Thị Mỹ T tại ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh không thu giữ gì.

Kết luận giám định số 10772/KL-KTHS ngày 20/9/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: (bút lục 29)

  • - Tinh thể trong 02 gói nylon được ký hiệu mẫu m1 cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,8244g (không phẩy tám hai bốn bốn gam), loại Methamphetamine.
  • - Tinh thể trong ống thủy tinh được ký hiệu mẫu m2 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0947g (không phẩy không chín bốn bảy gam), loại Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • 02 gói nylon chứa tinh thể và 01 ống thủy tinh chứa tinh thể được niêm phong trong 01 gói mang số vụ 3335/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và giám định viên. Đây là ma túy của T dùng để sử dụng và bán lại cho người khác.
  • 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (không có ống thủy tinh) của T. Đây là bộ dụng cụ được T dùng để sử dụng trái phép chất ma túy.
  • 01 cân điện tử của T dùng để phân chia chất ma túy.
  • 01 túi xách màu đen của T dùng để cất giấu chất ma túy.
  • 01 điện thoại di động hiệu Realme 7i có số Imei 1: 868066043085796, số Imei 2: 868066043085788. Đây là điện thoại của Võ Văn M (Sinh năm: 1999; Nơi thường trú: ấp R, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nơi ở: Ấp E, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh) dùng để liên lạc mua chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng số: 5215/QĐ-ĐCSMT ngày 10/12/2024 trả lại cho Võ Văn M.

Bản Cáo trạng số 53/CT-VKS.CC ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử: Bị cáo Lê Thị Mỹ T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị Mỹ T thừa nhận toàn bộ hành vi của bị cáo và đồng ý với kết luận giám định số: 10772/KL-KTHS ngày 20/9/2024 của Phòng K Công an Thành phố H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo như bản cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Thị Mỹ T từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo T không tranh luận, không tự bào chữa.

Bị cáo T nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi sai trái của bị cáo, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa bị cáo Lê Thị Mỹ T đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng số 53/CT-VKS.CC ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ có tại hồ sơ. Vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 13/9/2024, Công an huyện C kiểm tra hành chính phòng số 01, nhà trọ số 1154/12 tỉnh lộ 15, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh do Lê Thị Mỹ T thuê ở thì phát hiện T đang câm trên tay trái 01 gói nylon chứa tinh thể. Tiếp tục kiểm tra trên gác phát hiện 01 túi da bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể, tổng khối lượng tinh thể trong 02 gói nylon thu giữ của T có khối lượng: 0,8244 gam là ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine và 01 cân điện tử, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy trong ống thủy tinh chứa tinh thể có khối lượng: 0,0947 gam, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine. T khai nhận đây là ma túy T mua để bán lại cho người khác nhằm thu lợi và sử dụng. Mở rộng điều tra xác định vào các ngày 22/8/2024 và ngày 09/9/2024, Lê Thị Mỹ T đã bán ma túy cho Võ Văn M 02 lần, mỗi lần 150.000 đồng.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Lê Thị Mỹ T là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Thị Mỹ T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Ma túy là chất gây nghiện, khi sử dụng vào cơ thể sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của con người nên Nhà nước có chính sách quản lý độc quyền và nghiêm cấm mọi hành vi mua bán chất ma tuý và chế phẩm ma tuý. Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc mua bán chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì tư lợi cá nhân và thỏa mãn cơn nghiện mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội.

Hành vi của bị cáo T là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền về ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự tại địa phương, là mầm mống phát sinh các tội phạm, tệ nạn xã hội khác và tạo ra dư luận xấu trong nhân dân. Vì vậy, Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài đủ để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội; đồng thời răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của các bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.

[3]. Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lê Thị Mỹ T có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm”. Vì vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52

của Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi là phù hợp.

[4]. Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hiện tại đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi và trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Do đó, Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là phù hợp.

[5]. Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo T không có nghề nghiệp, còn là người nghiện ma túy nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng vụ án:

- Đối với các vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị hoặc không sử dụng được gồm:

  • + 02 gói nylon chứa tinh thể và 01 ống thủy tinh chứa tinh thể được niêm phong trong 01 gói mang số vụ 3335/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và giám định viên. Đây là ma túy của T dùng để sử dụng và bán lại cho người khác.
  • + 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (không có ống thủy tinh) của T. Đây là bộ dụng cụ được T dùng để sử dụng trái phép chất ma túy.

Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với 01 túi xách màu đen của T dùng để cất giấu chất ma túy và 01 cân điện tử của T dùng để phân chia chất ma túy. Đây là công cụ, phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với số tiền thu lợi bất chính 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) từ việc bán ma túy cho Võ Văn M, bị cáo T tự nguyện nộp lại. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định truy thu số tiền này nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Realme 7i có số imei 1: 868066043085796, số imei 2: 868066043085788. Đây là điện thoại của Võ Văn M. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng số: 5215/QĐ-ĐCSMT ngày 10/12/2024 trả lại cho Võ Văn M, Viện kiểm sát không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét quyết định xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C.

[7]. Những vấn đề khác của vụ án:

- Đối với người thanh niên tên S bán ma túy cho T hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch và chưa triệu tập lấy lời khai được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau. Viện kiểm sát không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.

- Đối với Võ Văn M là người mua chất ma túy của Lê Thị Mỹ T để sử dụng, M đã sử dụng hết tại khu vực đồng ruộng xã H, huyện C. Cơ quan điều tra Công an huyện C không xem xét trách nhiệm hình sự đối với M mà giao M cho Công an xã H, huyện C xử lý theo thẩm quyền là phù hợp. Viện kiểm sát không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.

- Đối với chị Nguyễn Thị Phương L là chủ nhà trọ cho bị cáo T thuê ở. Chị L không biết việc bị cáo T có hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét trách nhiệm hình sự đối với chị L là phù hợp. Viện kiểm sát không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.

[8]. Về nghĩa vụ chịu án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; buộc bị cáo Lê Thị Mỹ T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về tội danh, điều luật, hình phạt:

  • - Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Mỹ T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
  • - Xử phạt bị cáo Lê Thị Mỹ T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Bị cáo Lê Thị Mỹ T được khấu trừ thời gian bị tạm giữ 06 (sáu) ngày từ ngày 13/9/2024 đến ngày 19/9/2024, buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt còn lại là 07 (bảy) năm 05 (năm) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày tù.

[2]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

  • Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) gói nylon chứa tinh thể và 01 ống thủy tinh chứa tinh thể được niêm phong trong 01 gói mang số vụ 3335/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên và 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (không có ống thủy tinh) của T.
  • Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) cân điện tử dùng để phân chia chất ma túy và 01 (một) túi xách màu đen;

(Các vật chứng trên được liệt kê theo Lệnh nhập kho vật chứng số 2068/LNK-ĐCSMT ngày 10/12/2024 và Phiếu nhập kho vật chứng số 04/PNK ngày 12/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, bút lục 70, 71).

  • Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) của bị cáo Lê Thị Mỹ T.

[3]. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo Lê Thị Mỹ T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[4]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Công an huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THA DS huyện Củ Chi;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Dương Anh Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 37/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Mỹ T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; - Xử phạt bị cáo Lê Thị Mỹ T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án. Bị cáo Lê Thị Mỹ T được khấu trừ thời gian bị tạm giữ 06 (sáu) ngày từ ngày 13/9/2024 đến ngày 19/9/2024, buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt còn lại là 07 (bảy) năm 05 (năm) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày tù.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger