|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2025/HS-ST
Ngày 26 tháng 02 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Lý.
Bà Nguyễn Thị Thủy Khơi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Mông Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên
Trong ngày 26 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2025/HSST ngày 17 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H, năm sinh 1986; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; nơi ở hiện nay: Số nhà F, ngõ A, đường N, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không ; nghề nghiệp: Công nhân; văn hóa: 12/12; con ông Nguyễn Văn K (đã chết); con bà Trịnh Thị N, sinh năm 1955; vợ: Vương Thị N1, sinh năm 1983 (đã ly hôn); bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2012; tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 13/6/2024 bị Công an huyện H, tỉnh Lạng Sơn quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích.
Bị cáo bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/11/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Thân Văn P, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ D, phường T (nay là phường N, thành phố B), tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- + Anh Đỗ Văn C, sinh năm 1983; địa chỉ: Số F, đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- + Anh Hoàng Tiến N2, sinh năm 1987; địa chỉ: Số B, đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- + Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn T, xã T (nay là Tổ dân phố T, phường T), thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- + Anh Vũ Trí T1, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ dân phố số A, thị trấn N, huyện Y (nay là phường N, thành phố B), tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- + Anh Tạ Văn T2, sinh năm 1991; địa chỉ: Số D, đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- + Anh Đoàn Thế H1, sinh năm 1981; địa chỉ: Số nhà E đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1986, trú tại thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn thuê trọ tại gia đình ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1971, trú tại số nhà F, ngõ A, đường N, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Hữu làm công nhân Công ty L, địa chỉ xã N, huyện Y (nay là phường N, thành phố B), tỉnh Bắc Giang. Ngày 02/9/2024, H điều khiển xe mô tô tham gia giao thông do vi phạm lỗi sử dụng nồng độ cồn nên đã bị Phòng C1 Công an tỉnh B quyết định xử phạt vi phạm hành chính và tạm giữ giấy phép lái xe trong thời hạn 23 tháng.
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 08/11/2024, Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu đen, BKS 12H1-377.54 đi từ phòng trọ mục đích đến Công ty L để làm ca đêm. H điều khiển xe đi từ phòng trọ ra đường N rồi đi ra đường H hướng ra đường C - Lạng Sơn. Thời điểm này, tổ tuần tra kiểm soát giao thông Phòng C1 Công an tỉnh B gồm 07 người do ông Đỗ Văn C, cấp bậc Thiếu tá làm tổ trưởng đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm nồng độ cồn và xử lý các vi phạm giao thông khác tại Km 117 + 450 đường C - Bắc Giang thuộc địa phận TDP T, phường L (nay là phường T), thành phố B theo kế hoạch. Khi H điều khiển xe mô tô đi ra đến khu vực đầu đường cao tốc thì ông Hoàng Tiến N2, cấp bậc Thiếu tá, thành viên tổ công tác dùng bộ đàm thông báo cho mọi người trong tổ công tác biết để dừng xe kiểm tra. Ông Thân Văn P, cấp bậc Trung tá, thành viên tổ công tác dùng gậy giao thông, thổi còi ra hiệu lệnh yêu cầu H dừng xe để kiểm tra. Do trước đó H đã bị Phòng C1 Công an tỉnh B quyết định xử phạt vi phạm hành chính và tạm giữ giấy phép lái xe nên H không chấp hành hiệu lệnh dừng xe mà tăng ga nhằm trốn tránh việc tiếp tục bị kiểm tra và xử phạt. H đánh lái điều khiển xe sang phía bên trái thì đâm vào chân bên trái ông Thân Văn P đang đứng làm nhiệm vụ ở phía trước. Hậu quả làm ông P bị ngã ra đường và bị thương phải đưa đi sơ cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B. Khi va chạm, phần dè trước xe mô tô của H bị bật ra rơi xuống đường. H không dừng lại mà tiếp tục điều khiển xe đến công ty làm việc. Phòng C1 Công an tỉnh B đã báo tin đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố B để giải quyết đồng thời ban giao 01 mỏ dè xe bằng kim loại rơi tại hiện trường.
Cơ quan điều tra đã trích xuất hình ảnh từ camera an ninh của Công an thành phố B có hình ảnh hồi 18 giờ 30 phút ngày 08/11/2024, Nguyễn Văn H mặc áo bò cộc tay màu xanh, quần bò màu xanh xám, đội mũ bảo hiểm loại mũ lưỡi chai điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu đen BKS 12H1-377.54 đi trên đường N ra đường H. H xác nhận là hình ảnh H điều khiển xe mô tô ngay trước thời điểm bị Cảnh sát giao thông yêu cầu dừng xe rồi bỏ chạy.
Ngày 10/11/2024, Cơ quan điều tra đã bắt giữ Nguyễn Văn H về hành vi chống người thi hành công vụ và tạm giữ:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu sơn đen lắp BKS 12H1 - 377.54.
- - 01 áo cộc tay màu trắng, trên áo có chữ “Dio”, 01 áo bò cộc tay màu xanh.
- - 01 bản phô tô đăng ký xe mô tô BKS 12H1 - 377.54 mang tên Nguyễn Văn H.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54.
Cơ quan điều tra kiểm tra xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu đen BKS 12H1 - 377.54 thấy phần đầu chắn bùn trước không có dè xe bằng kim loại. Bị cáo H khai bị rơi tại hiện trường khi đâm xe mô tô vào Cảnh sát giao thông để bỏ chạy.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định để xác định tỷ lệ thương tích của ông Thân Văn P. Kết luận giám định số 2903 ngày 02/01/2025 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh B kết luận:
1- Các kết quả chính:
- + Thương tích vết sẹo mặt trước cẳng chân trái kích thước lớn: 3%.
- + Thương tích chạm thương gối phải không còn dấu vết: 0%.
2- Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Thân Văn P tại thời điểm giám định là: 3% (Ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
3- Kết luận khác: Các thương tích do va chạm với vật tày gây nên.
Trong quá trình điều tra, Nguyễn Văn H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên. Theo H khai đâm xe mô tô vào cán bộ Cảnh sát giao thông nhằm mục đích trốn tránh việc bị kiểm tra, xử phạt.
Cơ quan điều tra cho bị cáo Nguyễn Văn H xác định hiện trường và thực nghiệm điều tra tại hiện trường. Kết quả, bị cáo H xác định đúng vị trí bị Tổ công tác Phòng C1 Công an tỉnh B yêu cầu dừng xe để kiểm tra tại đường C - Bắc Giang thuộc địa phận TDP T, phường L (nay là phường T), thành phố B và thực hiện thuần thục động tác điều khiển xe mô tô BKS 12H1-377.54 đâm vào ông Thân Văn P để bỏ chạy như đã khai.
Đối với hành vi Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô đâm vào chân trái ông Thân Văn P gây thương tích 03%. Quá trình điều tra, ông P đã có đơn đề nghị không khởi tố đối với H về hành vi này nên Cơ quan điều tra không xử lý P về hành vi cố ý gây thương tích.
Đối với Nguyễn Văn H có hành vi điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe. Cơ quan điều tra đã chuyển xe mô tô BKS 12H1-377.54 và tài liệu đến Công an thành phố B để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Thân Văn P không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn H phải bồi thường.
Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng đối với số đồ vật, tài sản đã tạm giữ của Nguyễn Văn H để xử lý theo quy định
Cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên.
Đại diện Viện sát nhân dân thành phố B giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H từ 08 đến 10 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 10/11/2024).
- *Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 có số Imeil: 862366053728939, số Imei2: 862366053728921 đã qua sử dụng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Tịch thu, tiêu hủy: 01 áo cộc tay màu trắng, trên áo có chữ “Dio”; 01 áo bò cộc tay màu xanh đã cũ; 01 dè xe bằng kim loại cũ đã qua sử dụng.
- *Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2].Về sự vắng mặt của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho những người tham gia tố tụng, tại phiên tòa những người này vắng mặt, Kiểm sát viên và bị cáo đều đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án, xét thấy đã có lời khai của những người này trong hồ sơ vụ án và sự vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử, HĐXX căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vụ án theo quy định.
[3]. Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Buổi tối ngày 08/11/2024, Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH BKS 12H1-377.54 đi trên đường H hướng ra đường C - Lạng Sơn thuộc địa phận thành phố B thì gặp Tổ tuần tra kiểm soát giao thông của Phòng C1 Công an tỉnh B đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm nồng độ cồn và xử lý các vi phạm giao thông theo kế hoạch. Ông Thân Văn P, cấp bậc Trung tá, thành viên tổ công tác dùng gậy giao thông, thổi còi ra hiệu lệnh yêu cầu H dừng xe để kiểm tra nhưng H không chấp hành mà tăng ga, điều khiển xe sang phía bên trái nhằm trốn tránh bị kiểm tra nên đâm xe vào chân bên trái ông P. Hậu quả làm ông P bị thương tích 03%.
Quá trình điều tra, ông Thân Văn P không yêu cầu khởi tố đối với Nguyễn Văn H về hành vi cố ý gây thương tích.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội "“Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh, điểm, khoản, điều luật của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của người thi hành công vụ và xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình vi phạm. Do vậy cần có một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để có tác dụng giáo giục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, vừa có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
[5]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Bị cáo có một tiền sự: Ngày 13/6/2024 bị Công an huyện H, tỉnh Lạng Sơn quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Thân Văn P có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình phạt cho bị cáo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6]. Về hình phạt:
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên, thấy rằng cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo được hoạt động bình thường của hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước khi thực thi công vụ.
[7]. Đối với hành vi Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô đâm vào chân trái ông Thân Văn P gây thương tích 03%. Quá trình điều tra, ông P đã có đơn đề nghị không khởi tố đối với H về hành vi này nên Cơ quan điều tra không xử lý P về hành vi cố ý gây thương tích.
[8]. Đối với Nguyễn Văn H có hành vi điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe. Cơ quan điều tra đã chuyển xe mô tô BKS 12H1-377.54 và tài liệu đến Công an thành phố B để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
[9]. Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 áo cộc tay màu trắng, trên áo có chữ “Dio”, 01 áo bò cộc tay màu xanh đã cũ, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định.
- - Đối với 01 dè xe bằng kim loại cũ đã qua sử dụng, không có giá trị. Tại phiên tòa bị cáo cũng đề nghị tịch thu tiêu hủy nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 có số Imeil: 862366053728939, số Imei2: 862366053728921 đã qua sử dụng, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[10]. Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[11]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, để Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình phạt và điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 10/11/2024).
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H:01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 có số Imeil: 862366053728939, số Imei2: 862366053728921 đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Tịch thu, tiêu hủy: 01 áo cộc tay màu trắng, trên áo có chữ “Dio”; 01 áo bò cộc tay màu xanh đã cũ; 01 dè xe bằng kim loại cũ đã qua sử dụng.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTDS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả tống đạt hoặc niêm yết bản án.
5. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Anh |
Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự: chống người thi hành công vụ
- Số bản án: 37/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Chống người thi hành công vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H phạm tội chống người thi hành công vụ
