Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỊNH QUÁN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/HS-ST.

Ngày: 26-02-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Và Dưỡng, ông Hoàng Luật

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Tới - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 17/2025/TLST-HS ngày 21/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HS ngày 13/02/2025.

- Điểm cầu Nhà tạm giữ Công an huyện Đ gồm:

Bị cáo: Vũ Văn Q, sinh năm 1960 tại Bà Rịa – Vũng Tàu.

Nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Vũ Thị X (đã chết); Vợ: Nguyễn Hữu Thị Hồng L – 1960, không có con chung.

Tiền sự: Không.

Tiền án: 02

  • + Theo bản án số 71/2015/HS-ST ngày 16/6/2015 của TAND huyện Định Quán xử phạt bị cáo 01 năm 04 tháng tù về tội “Dâm ô đối với trẻ em”.
  • + Theo bản án số 115/2017/HSST ngày 21/11/2017 của TAND huyện Định Quán xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về nhân thân:

  • + Theo bản án số 24/HSST ngày 30/9/2004 của TAND huyện Thống Nhất xử phạt bị cáo 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • + Theo Quyết định xử phạt hành chính số 27/QĐ-XPVPHC ngày 27/8/2016 của Công an thị trấn Đ xử phạt bị cáo 2.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/02/2024 đến ngày 06/02/2024 được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến ngày 30/10/2024 bị tạm giữ đến ngày 08/11/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.

- Điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Định Quán gồm:

1

+ Bị hại:

  • 1/ Bà Huỳnh Thị M – 1970.
  • Địa chỉ: Tổ H, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
  • 2/ Bà Nguyễn Thị T – 1988.
  • Địa chỉ: Ấp A, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị V – 1982.

Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

(bị cáo có mặt, bị hại có đơn xin vắng mặt, bà V vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Văn Q có 02 tiền án về tội “Dâm ô đối với trẻ em” và “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản vào ngày 01/02/2024 và ngày 29/10/2024 cụ thể như sau:

-Vụ thứ nhất: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 01/02/2024 bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 50L2 – 8427 đến chùa “Tịnh Quang X1” tại địa chỉ: tổ H, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ để xin quà từ thiện. Khi đi đến khu vực phòng ngủ của các tu sĩ thì thấy điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax của bà Huỳnh Thị M nên nảy sinh ý định trộm cắp, bị cáo lén lút lấy điện thoại bỏ vào túi và đi ra lấy xe để tẩu thoát nhưng bị bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng đồng, có số sim 0389.584.530 và 01 xe mô tô biển số 50L2 – 8427.

Tài sản thiệt hại: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng đồng, có số sim 0389.584.530.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản ngày 05/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ, kết luận: Giá trị tài sản thiệt hại là 8.035.000 đồng.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Huỳnh Thị M đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Trong thời gian bị cáo được tại ngoại để phục vụ điều tra vụ án trên thì bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới.

-Vụ thứ hai: Vào khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 29/10/2024 bị cáo đi bộ đến Bệnh viện Đ, khi đi đến phòng trực của điều dưỡng Khoa N1 phát hiện có 01 điện thoại di động hiệu Samsung A1206 của bà Nguyễn Thị T, để trên giường, không có người trông coi nên bị cáo lén lút vào lấy điện thoại trên rồi đem đến cửa hàng điện thoại di động hiệu “Hoàng V1” bán với giá 600.000 đồng.

Sau khi trích xuất dữ liệu camera của bệnh viện phát hiện đối tượng tình nghi là bị cáo và tiến hành làm việc bị cáo thừa nhận và giao nộp số tiền 600.000 đồng trên.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A1206, màu xanh và tiền mặt 600.000 đồng.

Tài sản thiệt hại: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A1206, màu xanh.

2

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản ngày 06/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ, kết luận: Giá trị tài sản thiệt hại là 2.350.000 đồng.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Cáo trạng số 44/CT-VKSÐQ, ngày 20/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ phạm tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Văn Q từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng vụ án:

  • - 01 xe mô tô biển số biển số 50L2 – 8427 bị cáo dùng làm phương tiện để thực hiện vụ trộm cắp thứ nhất quá trình điều tra thể hiện xe mô tô trên không có số khung, số máy và không có thông tin trong cơ sở dữ liệu đăng ký quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ nên tách ra điều tra, khi nào có kết quả xử lý sau.
  • - Đối với bà Đặng Thị V chủ cửa hàng điện thoại “Hoàng V1” khi mua tài sản của bị cáo, bà không biết đây là tài sản phạm tội mà có. Ngày 30/10/2024, bà V tự nguyện giao nộp tài sản cho Cơ quan điều tra. Do đó không xử lý đối với bà V về hành vi” Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đối với số tiền 600.000 đồng, thuộc sở hữu của bà Đặng Thị V quá trình điều tra đã trao trả cho bà V là đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo không có ý kiến, không tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
  2. Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận định giá, tang vật của vụ án, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác trong

3

hồ sơ vụ án, nên đủ căn cứ kết luận: Bị cáo đã có 02 tiền án nhưng để có tiền tiêu xài nên vào ngày 01/02/2024 và ngày 29/10/2024 trên địa bàn huyện Đ, bị cáo Vũ Văn Q đã lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng đồng, có số sim 0389.584.530 của bà Huỳnh Thị M có giá trị 8.035.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Samsung A1206, màu xanh của bà Nguyễn Thị T có giá trị 2.350.000 đồng. Tổng giá trị tài sản thiệt hại là 10.385.000 đồng.

Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

  1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  3. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu về tội “Trộm cắp tài sản”.
  4. Về hình phạt: Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội.

Bị cáo phạm tội thuộc tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, đã từng bị xét xử cũng như bị xử phạt hành chính nhiều lần về tội trộm cắp tài sản nhưng bị cáo vẫn không thay đổi để trở thành công dân có ích cho xã hội mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài nhằm để cải tạo giáo dục bị cáo. Tuy nhiên xét bị cáo có tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

  1. Về xử lý vật chứng:

01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng đồng, có số sim 0389.584.530; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A1206, màu xanh và tiền mặt 600.000 đồng quá trình điều tra đã trao trả cho chủ sỡ hữu là đúng quy định nên không xem xét.

- 01 xe mô tô biển số biển số 50L2 – 8427 bị cáo dùng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội quá trình điều tra thể hiện xe mô tô trên không có số khung, số máy và không có thông tin trong cơ sở dữ liệu đăng ký quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ nên tách ra điều tra, khi nào có kết quả xử lý sau.

  1. Về vấn đề khác:

Đối với bà Đặng Thị V chủ cửa hàng điện thoại “Hoàng V1” khi mua tài sản của bị cáo, bà không biết đây là tài sản phạm tội mà có. Ngày 30/10/2024, bà V tự nguyện giao nộp tài sản cho Cơ quan điều tra. Do đó không xử lý đối với bà V về hành vi” Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là đúng quy định nên không xem xét.

  1. Về án phí: Do bị cáo là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí do đó thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định.

4

  1. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo 04 (bốn) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/10/2024 được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 01/02/2024 đến ngày 06/02/2024.

  1. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Do bị cáo là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí hình sự do đó thuộc trường hợp miễn nộp tiền án phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng vắng mặt;
  • - VKSND huyện, tỉnh;
  • - Công an huyện ĐQ;
  • - Chi cục THADS huyện ĐQ;
  • - Sở tư pháp tỉnh ĐN;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Huyền Trang

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự về tội "trộm cắp tài sản"

  • Số bản án: 37/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội "Trộm cắp tài sản"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: số 37 ngày 26.02.25 Vũ Văn Quyết
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger