|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 37/2025/HSST
Ngày 25/02/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
—————————
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Chu Văn Hùng
2. Bà Trần Thị Lan Hương
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Ma Thị Huyền Nhung - Thư
ký, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái
Nguyên tham gia phiên toà: Bà Thái Thị Hải Y - Kiểm sát viên.
Ngày 25/02/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2025/HSST ngày 22/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-HS ngày 10/02/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Anh Đ, sinh năm1983. Tên gọi khác: Không
Nơi cư trú: Xóm S, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Làm ruộng. Con ông Trần Công P, sinh năm 1957, con bà Trương Thị Y1, sinh năm 1958. Có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1988 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2006.
Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân: 03
- + Tại Bản án số 211/HSST ngày 10/9/2003,Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên tuyên phạt 24 tháng tù, về tội: “Cướp giật tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/3/2005, nộp án phí ngày 02/10/2006.
- + Tại Bản án số 136/2007/HSST ngày 20/7/2007, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tuyên phạt 12 tháng tù, về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/4/2008, nộp án phí ngày 15/7/2007.
- + Tại Bản án số 249/2017/HSST ngày 12/7/2017, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên tuyên phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/8/2017, nộp án phí ngày 17/11/2017.
Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh T (bị bắt tạm giam từ ngày 03/11/2024 đến nay). Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1990
HKTT: Xóm Hoàng Vân, xã Song Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
Chỗ ở hiện nay: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. ( Có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Trần Văn D, sinh năm 1988
Trú tại: Xóm S, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. ( Có mặt)
* Người làm chứng:
- Chị Hứa Thị A, sinh năm 1982 ( Vắng mặt)
- Chị Đỗ Thị M, sinh năm 1981 ( Vắng mặt)
- Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1964 (Vắng mặt)
Đều trú tại: Xóm S, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
- Anh Nguyễn Chiến C, sinh năm 1989 ( Vắng mặt)
Chỗ ở hiện nay: Xóm L, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
- Chị Phạm Thị H1, sinh năm 1987 (Có mặt)
Chỗ ở hiện nay: Xóm H, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 25/8/2024, anh Nguyễn Ngọc T là nhân viên giao hàng được Công ty Cổ phần dịch vụ giao hàng nhanh phát cho đơn hàng có mã số G8WUG608 địa chỉ giao hàng ở xóm S, xã T, thành phố T, tên khách hàng là Trần Anh Đ. Vào khoảng 16 giờ 15 phút ngày 25/08/2024, anh T mang hàng đến khu vực ngã ba thuộc xóm S, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên để giao cho khách thì gặp Trần Anh Đ đang dắt trâu đi qua. Do Đ đã đặt mua 01 chiếc đồng hồ trên mạng từ trước nên Đ hỏi anh T là: “Sao mày không giao hàng cho tao” thì T nói: “Vợ anh còn nợ tiền hàng chưa trả” nên anh T không giao cho Đ. Đ nói: “Vợ tao có nợ đâu” và dùng chân trái đạp 01 cái vào đùi phải và dùng tay phải tát 01 cái vào mặt anh T. Cùng lúc này, chị Phạm Thị H1 (là người chung sống như vợ chồng với Đ) đi qua đã can ngăn không cho Đ đánh anh T. Đ nói với T: “Ba mặt một lời có vợ tao ở đây mày hỏi vợ tao có nợ không” thì H1 nói: “Không nợ”. Đ nhặt đá ở đường để ném về phía T nhưng không trúng. Đ tiếp tục nhặt gạch để ném về phía anh T nhưng vẫn không trúng. Anh T bỏ chạy vào cổng nhà chị Hứa Thị A ở gần đó thì Đ đuổi theo ném viên gạch vào sân nhà chị A. Chị A đuổi Đ ra thì anh T có nhặt lại viên gạch mà Đ ném anh T dơ lên với mục đích để dọa Đ. Khi ra đến ngã ba xóm S thì anh T vứt viên gạch xuống đường. Thấy vậy, Đ dùng tay phải nhặt viên gạch đó lên ném trúng mạn sườn trái của anh T. Anh T ngồi xuống thì Đ tiếp tục dùng tay phải nhặt viên gạch này lên ném trúng vào ngực trái của anh T. Anh T bị ném trúng nằm ngã ra đường. Sau đó, Đ có vật lộn với anh T và được mọi người can ngăn thì Đ bỏ đi. Sau khi bị đánh, anh T bị đau nhức người, tức ngực, khó thở nên đã trình báo Công an xã T rồi đến Bệnh viện A1 khám và điều trị.
Biên bản xác minh thương tích lập hồi 15 giờ 15 phút ngày 26/8/2024 tại Khoa Ngoại Chấn thương - Bệnh viện A1 xác định: Anh Nguyễn Ngọc T nhập viện trong tình trạng tỉnh, tim nhịp đều, T1, T2 rõ. Phổi thông khí kém, Sp02: 97 %. Khó thở nhẹ, có vết xây sát, rớm máu vùng ngực trái. Ấn vùng ngực trái có điểm đau chói. Đau, sưng nề, bầm tím, hạn chế vận động vùng gối trái. Đau, hạn chế vận động vai phải. Chẩn đoán: Theo dõi chấn thương ngực kín. Kết quả chụp cắt lớp vi tính lồng ngực: Hình ảnh đụng dập nhu mô thuỳ dưới phổi trái, gãy xương sườn 6 bên trái, rạn xương sườn 5, 7 bên trái. Anh Nguyễn Ngọc T đã điều trị tại Bệnh viện A1 trong thời gian 03 ngày kể từ 20 giờ 14 phút ngày 25/8/2024 đến 16 giờ 30 phút ngày 27/8/2024 thì ra viện.
Bản Kết luận giám định số 674/KLTTCT - TTPY ngày 16/9/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh T kết luận: Căn cứ Thông tư số: 22/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y2 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Ngọc T tại thời điểm giám định là 15% (Mười lăm phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Cơ chế hình thành thương tích: Do tác động của vật tày.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Anh Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với đơn trình báo, lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường và nội dung hình ảnh video thu giữ được.
Vật chứng vụ án, gồm: 01 viên gạch kích thước khoảng 05cm x 06cm, hiện không thu hồi được; 01 USB lưu trữ 01 file video ghi lại nội dung diễn biến sự việc thu được từ camera an ninh tại hiện trường được lưu theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Văn D là em trai ruột của Trần Anh Đ đã trực tiếp bồi thường tiền viện phí và tổn hại sức khoẻ cho người bị hại anh Nguyễn Ngọc T số tiền 15.000.000 đồng. Đến nay, người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Trần Anh Đ. Tại phiên tòa, anh D không yêu cầu Trần Anh Đ hoàn trả lại số tiền 15.000.000 đồng nêu trên.
Tại Cáo trạng số 30/CT-VKSTPTN ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố Trần Anh Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Anh Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự; đề nghị áp dụng điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Anh Đ từ 27 đến 30 tháng tù.
Phần trách nhiệm dân sự: Ghi nhận hai bên đã tự thỏa thuận bồi thường xong.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về vật chứng: 01 viên gạch kích thước khoảng 05cm x 06cm, hiện không thu hồi được.
Phần tranh luận: Bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là không oan, đúng người, đúng tội. Nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, không có ý kiến hoặc kiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố là đúng người, đúng tội. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Đơn trình báo, Kết luận giám định pháp y về thương tích, lời khai của bị hại, những người làm chứng và những chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 16 giờ 15 ngày 25/8/2024, tại khu vực đường dân sinh thuộc xóm S, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, do mâu thuẫn trong việc giao, nhận hàng giữa Trần Anh Đ và anh Nguyễn Ngọc T là nhân viên giao hàng (Shipper) của Công ty Cổ phần D1 chi nhánh T3 nên cả hai đã xảy ra xô xát với nhau. Trần Anh Đ đã dùng chân trái đạp 01 cái vào đùi phải và dùng tay phải tát 01 cái vào mặt anh T, dùng tay phải nhặt 01 viên gạch kích thước khoảng 05cm x 06cm ném 02 nhát, 01 nhát trúng mạn sườn bên trái anh T và 01 nhát trúng ngực trái của anh T. Hậu quả: Anh T bị đụng dập nhu mô thuỳ dưới phổi trái, gãy xương sườn 6 bên trái, rạn xương sườn 5, 7 bên trái, gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15%. Về dân sự, anh Trần Văn D là em trai của bị cáo Đ đã trực tiếp bồi thường tiền viện phí và tổn hại sức khỏe cho anh Nguyễn Ngọc T số tiền là 15.000.000 đồng. Đến nay, người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm, có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Trần Anh Đ.
3]. Đánh giá của Hội đồng xét xử: Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, trực tiếp gây thương tích cho anh Nguyễn Ngọc T. Do bị cáo sử dụng 01 viên gạch kích thước khoảng 05cm x 06cm (là hung khí nguy hiểm) ném 02 nhát, 01 nhát trúng mạn sườn bên trái anh T và 01 nhát trúng ngực trái của anh T, khiến anh T bị đụng dập nhu mô thuỳ dưới phổi trái, gãy xương sườn 6 bên trái, rạn xương sườn 5, 7 bên trái, gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15% nên hành vi của bị cáo đã đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm đ, khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Cáo
trạng số 30/CT-VKSTPTN ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát thành phố T truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật
Nội dung Điều 134 Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30 % hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng ...hung khí nguy hiểm, ....
...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, khi phát sinh mâu thuẫn bị cáo không kiềm chế được hành vi của mình nên đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của anh T, dẫn đến anh T bị thiệt hại 15 % sức khoẻ, đồng thời gây mất trật tự trị an ở địa phương.
[5] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
5.1. Về nhân thân, tiền án tiền sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng có nhân nhân xấu. Đã 03 lần bị xét xử và bị kết án về các tội “Cướp giật tài sản”; “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; “Đánh bạc” (bị cáo đã chấp hành xong các bản án trên).
5.1. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ tỏ ra ăn năn hối cải; tác động đến người thân khắc phục bồi thường toàn bộ cho bị hại, được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
5.2. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét bị cáo có nhận thức về pháp luật, đã bị xét xử nhiều lần, nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân, mà tiếp tục phạm tội, như vậy thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Mức hình phạt của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp, được chấp nhận.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Văn D là em trai ruột của Trần Anh Đ đã trực tiếp bồi thường tiền viện phí và tổn hại sức khoẻ cho người bị hại anh Nguyễn Ngọc T số tiền 15.000.000 đồng. Đến nay, người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Trần Anh Đ.
Tại phiên tòa, anh D không yêu cầu Trần Anh Đ hoàn trả lại số tiền 15.000.000 đồng nêu trên, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] .Về vật chứng: 01 viên gạch kích thước khoảng 05cm x 06cm (không thu hồi được) nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Anh Đ phạm tội: "Cố ý gây thương tích"
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Trần Anh Đ 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/11/2024 . Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo Trần Anh Đ 45 ngày (Bốn mươi lăm ngày), kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Kim Ngọc |
Bản án số 37/2025/HSST ngày 25/02/2025 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 37/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Anh Đức
