Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

--------

Bản án số: 37/2025/HSST

Ngày: 25 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Anh Ngọc;
2/ Bà Trần Thị Thu Hiền.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: bà Phạm Thị Diệu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 31/2025/HSST ngày 21 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Vũ Đoàn Kim T; sinh năm 1990, tại: TP .; Nơi đăng ký NKTT: 5 L, phường P, quận T, TP .; chỗ ở hiện nay: A Đường số A, phường B, quận B, TP .; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nữ; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Công Đ (chết) và bà: Đoàn Thị P, sinh năm 1969; chồng: không; con: 01 người (sinh năm 2006);

Tiền án, tiền sự: không

Bị bắt tạm giữ, tạm giam: ngày 06/09/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T, TP . và có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 06/9/2024, Vũ Đoàn Kim T biết được Trần Khánh D (người yêu của T) về nhà của D tại B H, phường P, quận T nên T đến chơi. Khoảng 19 giờ cùng ngày, D rời nhà đi đâu không rõ. Khoảng 20 giờ cùng ngày, qua hệ thống camera có phát tiếng trong nhà, D nói T ra trước cửa gặp H (chưa rõ lai lịch, là bạn của D và T). Sau đó, T ra phía trước nhà gặp H, tại đây H đưa cho T 01 gói giấy nhờ T giữ giùm rồi H lái xe rời đi. T biết gói giấy chứa ma túy vì trước đó H cũng đã nhờ T giữ ma túy 01 lần. Sau đó, T cất gói giấy nêu trên vào túi xách của T. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Công an phường P đến kiểm tra hành chính tại địa chỉ B H, phường P, quận T phát hiện T đang cầm giữ túi xách có gói giấy chứa 06 gói nylon chứa tinh thể là ma túy nên Công an phường P tiến hành thu giữ, niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Vũ Đoàn Kim T.

Kết luận giám định số 10528/KL-KTHS ngày 13/09/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận:

- Tinh thể được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) đều là ma tuý thể rắn, có tổng khối lượng 8,5086g (tám phẩy năm không tám sáu gam), loại Methamphetamine)

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Vũ Đoàn Kim T (đương sự), Trương Hoài L (chứng kiến), Lê Hoàng P1 (Điều tra viên) và hình dấu Công an phường P, quận T, bên trong có 06 gói nylon chứa tinh thể (Ký hiệu mẫu m);
  • - 01 (một) túi xách màu đen;
  • - 01 (một) ống thuỷ tinh bị bể;
  • - 01 (một) ống hút nhựa màu hồng;
  • - 01 (một) gói giấy chứa 06 gói nylon chứa tinh thể nghi vấn là ma tuý;
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, số Imei thứ nhất: 865838042892833, số Imei thứ hai: 865838042892825, đã qua sử dụng. Bị cáo sử dụng cá nhân.

Tại bản Cáo trạng số 51/CT-VKSQ.TP ngày 21 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố bị cáo Vũ Đoàn Kim T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên Tòa:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, TP. giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung Cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt: bị cáo Vũ Đoàn Kim T từ 05 năm đến 06 năm tù.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề cập xử lý vật chứng.

Bị cáo Vũ Đoàn Kim T đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.
  2. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Vũ Đoàn Kim T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ để xác định: Vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 06/9/2024, tại địa chỉ số B H, phường P, quận T, Vũ Đoàn Kim T có hành vi tàng trữ trái phép 06 gói nylon có khối lượng 8,5086g ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine thì bị bắt quả tang.

    Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP. đã truy tố bị cáo Vũ Đoàn Kim T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

  3. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến các chính sách, quy định của Nhà nước trong việc quản lý, cất giữ chất ma túy mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần thiết xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ và hậu quả do bị cáo gây ra để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
  4. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
  5. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  6. Đối với đối tượng Trần Khánh D và tên H chưa rõ lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đang truy xét, khi nào bắt được sẽ xử lý sau là phù hợp.
  7. Về xử lý vật chứng:
    • - Đối với 01 (một) gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Vũ Đoàn Kim T (đương sự), Trương Hoài L (chứng kiến), Lê Hoàng P1 (Điều tra viên) và hình dấu Công an phường P, quận T, bên trong có 06 gói nylon chứa tinh thể (Ký hiệu mẫu m). Cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
    • - Đối với 01 (một) túi xách màu đen; 01 (một) ống thuỷ tinh bị bể; 01 (một) ống hút nhựa màu hồng; 01 (một) gói giấy chứa 06 gói nylon chứa tinh thể nghi vấn là ma tuý. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
    • - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, số Imei thứ nhất: 865838042892833, số Imei thứ hai: 865838042892825, đã qua sử dụng là điện thoại T sử dụng cá nhân. Xét không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tuyên trả cho bị cáo T.
  8. Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: bị cáo Vũ Đoàn Kim T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  2. Áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  3. Xử phạt: bị cáo Vũ Đoàn Kim T 06 (S) năm tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam: ngày 06/09/2024.

  4. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Vũ Đoàn Kim T (đương sự), Trương Hoài L (chứng kiến), Lê Hoàng P1 (Điều tra viên) và hình dấu Công an phường P, quận T, bên trong có 06 gói nylon chứa tinh thể (Ký hiệu mẫu m); 01 (một) túi xách màu đen; 01 (một) ống thuỷ tinh bị bể; 01 (một) ống hút nhựa màu hồng; 01 (một) gói giấy chứa 06 gói nylon chứa tinh thể nghi vấn là ma tuý.
    • - Trả lại cho bị cáo Vũ Đoàn Kim T: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, số Imei thứ nhất: 865838042892833, số Imei thứ hai: 865838042892825, đã qua sử dụng.

    Hiện các đồ vật tài sản trên đã được nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 248/PNK ngày 11/10/2024 của Cơ quan CSĐT Công an quận T.

  5. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Buộc bị cáo Vũ Đoàn Kim T phải nộp: 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: bị cáo Vũ Đoàn Kim T được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

THẨM

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có QL&NV liên quan;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Q.Tân Phú;
  • - THADS quận Tân Phú;
  • - Công an Q. Tân Phú;
  • - CATP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Đức Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HSST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 37/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger