|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 37/2025/HS-ST Ngày: 21/02/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ VINH - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Nữ Hạnh Dung
Các hội thẩm nhân dân: ông Dương Ngọc Linh và bà Nguyễn Thị Lệ Hằng
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai An - Thư ký TAND TP . Vinh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tố Hoa - Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2025/HSST ngày 21 tháng 01 năm 2025 t heo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Dương Thị D; Tên gọi khác: không; Sinh năm: 1973 tại TP , tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKHKTT: khối M, phường H, TP ., tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn B (đã chết) và bà Chu Thị C (đã chết); A, chị, em ruột có 07 người, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Chồng: Lê Duy M – sinh năm 1966; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khởi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Thị H; Tên gọi khác: không; Sinh năm: 1958 tại TP , tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKHKTT: khối T, phường H, TP ., tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ học vấn: 10/10; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Khắc G (đã chết); A, chị, em ruột có 04 người, bị cáo là con út trong gia đình; Chồng: không; Có 02 con, lớn sinh năm 1987, nhỏ sinh năm 1991; Tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Lê Duy T – sinh năm 1996. Địa chỉ: khối M, phường H, TP ., tỉnh Nghệ An – có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do nhận thấy nhu cầu tiêu thụ thuốc lá điếu của nước ngoài sản xuất trong thời gian gần đây tăng cao, lợi nhuận lớn nên vào sáng ngày 07/11/2024, Dương Thị D đến ki ốt tạp hóa của Nguyễn Thị H tại số A đường T, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An để trao đổi và nhờ H mua cho D 2000 bao thuốc lá loại RAISON ICE CAFÉ. Qua trao đổi, H đồng ý sẽ tìm mua thuốc lá cho D nhưng do H chưa có sẵn nên nói với D là khi nào có sẽ liên lạc cho D đến lấy sau. H và D thống nhất khi nào mua được số lượng thuốc lá nêu trên thì D sẽ trả tiền công cho H là 1.000.000 đồng. Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 08/11/2024, H đang bán ở ki ốt thì có một nam thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể) đến tiếp thị sản phẩm thuốc lá. H hỏi nam thanh niên có thuốc lá ngoại loại RAISON ICE CAFÉ không, nếu có thì bán cho H 2000 bao. Sau đó, nam thanh niên đồng ý bán cho H với giá 58.000.000 đồng, H đồng ý mua và hẹn giao thuốc lá tại cửa hàng tạp hóa của H. Đến 10 giờ 00 phút cùng ngày, nam thanh niên trên đi xe máy chở theo 04 thùng thuốc lá loại RAISON ICE CAFÉ đến điểm hẹn giao cho H. Sau khi kiểm tra đủ số lượng 2000 bao thì H hẹn nam thanh niên để H nhập hết số thuốc lá nêu trên thì sẽ thanh toán tiền. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, Dương Thị D đến ki ốt của H thì được H cho biết đã mua được thuốc lá cho D với số lượng 2000 bao. Sau đó, H cùng D để 03 thùng thuốc lá lên xe máy mà D đang điều khiển để đưa về cất giấu tại nhà riêng của D ở khối M, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Còn 01 thùng thuốc lá còn lại do không chở hết được thì cất ở ki ốt của H, D sẽ quay lại chở sau. Khi Dương Thị D điều khiển xe chở 03 thùng thuốc lá bên trong chứa 1500 bao loại RAISON ICE CAFÉ về đến khu vực ngõ B, đường L, khối M, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An thì bị Công an thành phố V phát hiện, bắt quả tang.
Đến 16 giờ 00 phút ngày 08/11/2024, Nguyễn Thị H đến trụ sở Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V để xin đầu thú về hành vi phạm tội “Buôn bán hàng cấm” là thuốc lá điếu nhập lậu và tự nguyện giao nộp 01 thùng thuốc lá loại RAISON ICE CAFÉ.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Dương Thị D tại khối M, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Công an thành phố V thu giữ thêm 200 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu ESSE CHANGE do nước ngoài sản xuất.
Tại Bản kết luận giám định số 8825/KL-KTHS ngày 21/11/2024 của V, Bộ C1, kết luận:
- - Toàn bộ 250 bao thuốc lá (mỗi bao thuốc chứa 20 điếu thuốc lá) đều mang nhãn hiệu “RAISON ICE CAFÉ”, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu "RAISON ICE CAFÉ".
- - Toàn bộ 50 bao thuốc lá (mỗi bao thuốc chứa 20 điếu thuốc lá) đều mang nhãn hiệu “ESSE CHANGE”, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “ESSE CHANGE".
- - Căn cứ khoản 1 và khoản 5, Điều 7 Thông tư 37/2013/TT- BCT ngày 30/12/2013 của Bộ C2 “quy định nhập khẩu thuốc lá điếu, xì gà”; khoản 6, Điều 3 “hàng hoá nhập lậu” của Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/08/2020 của Chính phủ: Tất cả các mẫu thuốc lá điếu gửi giám định đều là thuốc lá điếu không đủ điều kiện để nhập khẩu lưu thông trên thị trường Việt Nam.
- - Căn cứ Điều 3 và Điều 4 Thông tư liên tịch số 05/2013/TTLT-BYT-BCT ngày 08/02/2013 của Bộ Y và Bộ C2 “Thông tư liên tịch hướng dẫn việc ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá”; Điều 3 Thông tư số 23/2021/TT-BTC ngày 30/3/2021 của Bộ T2 “hướng dẫn về in, phát hành, sử dụng, quản lý tem điện tử rượu và tem điện tử thuốc lá”: tất cả các mẫu thuốc lá điếu gửi giám định trên đều là thuốc lá điếu không được Việt Nam sản xuất để tiêu thụ tại Việt Nam.”
Vật chứng thu giữ gồm:
- - 2000 bao thuốc lá nhãn hiệu RAISON ICE CAFÉ mang nhãn hiệu nước ngoài sản xuất, sau khi lấy mẫu giám định còn lại 1750 bao;
- - 200 bao thuốc lá nhãn hiệu ESSE CHANGE mang nhãn hiệu nước ngoài sản xuất, sau khi lấy mẫu giám định còn lại 150 bao.
- - 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, mang BKS: 37B2 - 696.03, đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Lê Duy T.
Cáo trạng số 60/CT-VKS-TPV ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh đã truy tố Dương Thị D, Nguyễn Thị H về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 của BLHS.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35 BLHS xử phạt Dương Thị D từ 120.000.000 đồng – 140.000.000 đồng; Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 BLHS xử phạt Nguyễn Thị H từ 100.000.000 đồng – 120.000.000 đồng Ngoài ra, đề nghị xử lý vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không tranh luận gì. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên toà, bị cáo Dương Thị D, Nguyễn Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, không có tranh luận gì. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trong giai đoạn điều tra và tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đầy đủ cơ sở để khẳng định: Vào ngày 07/11/2024, Dương Thị D nhờ Nguyễn Thị H mua 2000 bao thuốc lá điếu nhập lậu RAISON ICE CAFÉ với mục đích mua về để bán lại kiếm lời. Sau đó, H liên hệ với một nam thanh niên không rõ lai lịch để mua 2000 bao thuốc lá điếu nhập lậu trên với giá 58.000.000 đồng. Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 08/11/2024, sau khi H mua được số thuốc lá trên, D qua ki ốt của H để chở 1500 bao thuốc lá điếu nhập lậu về nhà cất dấu, số còn lại để ở ki ốt của H, do xe D không chở hết được. Khi D đang đi đến khu vực ngõ B, đường L, khối M, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang. Ngoài ra, D còn cất giữ 200 bao thuốc lá điếu nhập lậu ESSE CHANGE tại nhà mà D đã mua trước đó với mục đích bán lại kiếm lời. Như vậy, hành vi mà Dương Thị D, Nguyễn Thị H thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại khoản 1 Điều 190 BLHS như cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội.
[2.2] Vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với các loại hàng hóa cấm sản xuất, kinh doanh, gây khó khăn trong công tác quản lý kinh tế và gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội ở địa phương. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực, hành vi trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc buôn bán hàng không có nguồn gốc xuất xứ và không có chứng từ hợp pháp là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện để thu lợi bất chính. Xét thấy các bị cáo phạm tội tuy có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và có khả năng tự cải tạo; quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thật sự ăn năn hối cải. Do đó, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tiền như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm, tương xứng với tính chất hành vi và mức độ phạm tội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Dương Thị D và Nguyễn Thị H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ, xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo H sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo D và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo H để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[2.3] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[2.4] Trong vụ án này, đối với nam thanh niên đã giao thuốc lá cho Nguyễn Thị H, do H do không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên Công an thành phố V đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với người có tài khoản Facebook “Thuốc lá ngoại” là người bán 200 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Esse Change mang nhãn hiệu nước ngoài sản xuất cho Dương Thị D nhưng D không rõ tên tuổi, địa chỉ. Hiện nay Facebook không có đại diện pháp lý tại Việt Nam nên không có cơ sở để xác minh làm rõ, xử lý.
[2.5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 2000 bao thuốc lá nhãn hiệu RAISON ICE CAFÉ mang nhãn hiệu nước ngoài sản xuất, sau khi lấy mẫu giám định còn lại 1750 bao; 200 bao thuốc lá nhãn hiệu ESSE CHANGE mang nhãn hiệu nước ngoài sản xuất, sau khi lấy mẫu giám định còn lại 150 bao thu giữ của Dương Thị D là vật nhà nước cấm tàng trữ và không có giá trị sử dụng.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, mang BKS: 37B2 - 696.03. Quá trình điều tra xác minh được chủ sở hữu hợp pháp là anh Lê Duy T. Anh T1 cho Dương Thị D mượn để sử dụng, không biết việc D sử dụng xe vào mục đích phạm tội. Vì vậy, Công an T đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho anh Lê Duy T là đúng quy định.
[2.6]. Về án phí: Bị cáo Dương Thị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Bị cáo Nguyễn Thị H là người cao tuổi (67 tuổi) và có đơn xin miễn án phí nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Dương Thị D, Nguyễn Thị H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt Dương Thị D 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng).
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt Nguyễn Thị H 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 1750 bao thuốc lá nhãn hiệu RAISON ICE CAFÉ mang nhãn hiệu nước ngoài sản xuất; 150 bao thuốc lá nhãn hiệu ESSE CHANGE mang nhãn hiệu nước ngoài sản xuất. (theo Phiếu nhập kho số NK 2025/88 ngày 11/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh)
Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS 2015; Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc Dương Thị D, phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Thị H.
Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Hồ Nữ Hạnh Dung |
Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 37/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt 120 triệu đồng
