Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN PHONG THỔ

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 37/2025/HS-ST

Ngày 21-02-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Đèo Văn Vĩnh.
  • 2. Ông Ngô Văn Thế.

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Khuyên - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QĐXXST-HS ngày 11/02/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tẩn Chỉn T1; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 25/6/1992; Nơi sinh: huyện P, tỉnh Lai Châu; Nơi ĐKHKTT: Bản P, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu; Nơi ở hiện nay: Bản X, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 01/12; Con ông Tẩn Sài P, đã chết và con bà Phàn San M, sinh năm 1957; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Bị cáo đã từng chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn với Tẩn Tả M1, sinh năm 1994; Con có 02 con: con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/7/2024 tại Trại giam Công an tỉnh L đến ngay 12/9/2024 chuyển đến tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an huyện P đến nay. Có mặt.

* Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Tân A X, sinh năm 1985, nơi ĐKHKTT: Bản S, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu, Nơi ở hiện nay: Bản T, xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu, vắng mặt.
  • Anh Phùng Văn H, sinh năm 1992, nơi cư trú: Bản H, xã L, huyện P, tỉnh Lai Châu, có mặt.
  • Anh Phàn Phủ Q, sinh năm 1984, nơi cư trú: Bản X, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt.
  • Anh Phàn Lao T, sinh năm 2003, nơi cư trú: Bản X, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt.
  • Anh Phàn Chin P1, sinh năm 1992, nơi cư trú: Bản X, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, văng mặt.

* Người làm chứng: Chị Chẻo Mỹ C, sinh năm 1999, nơi cư trú: Bản D, xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu, vắng mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nông Thị Minh H1, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 5/2024, qua mạng xã hội W, Tẩn Chỉn T quen biết một người đàn ông quốc tịch Trung Quốc tên “Vệ”, không rõ lai lịch. V bảo T1 nếu thu mua được Bọ hung ở Việt Nam thì mang đến gần mốc 71 biên giới Việt Nam – Trung Quốc bán qua đường tiểu ngạch cho V, T1 đồng ý. Đến đầu tháng 6/2024, T1 gọi điện qua ứng dụng Zalo cho Tẩn A X sinh năm 1985 (đăng ký thường trú tại bản S, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu là người quen từ trước) hỏi có Bọ hung bán không? Xoang trả lời “có” và thống nhất giá bán là 1.000.000 đồng/kg. Ngày 12/6/2024, T1 chuyển khoản trước cho X số tiền 50.000.000 đồng qua tài khoản ngân hàng N (A). Sau khi thu mua được khoảng 120 kg Bọ hung không rõ nguồn gốc xuất xứ của người dân trên địa bàn các tỉnh Điện Biên, Sơn La... ngày 15/6/2024, X gọi điện hẹn T1 đến B xe khách tỉnh Lai Châu nhận Bọ hung vào sáng ngày 16/6/2024.

Khoảng 08 giờ ngày 16/6/2024, Tẩn Chỉn T1 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 25A-049.81 (mượn của Phùng Văn H, sinh năm 1992 trú tại bản Hồng Thu, xã L, huyện P, tỉnh Lai Châu) chở theo Chẻo Mỹ C, sinh năm 1999 trú tại bản Diền Thàng, xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu là bạn gái T1 đi từ xã T, huyện S ra thành phố L, tỉnh Lai Châu. Thơ không nói cho H và C biết việc sử dụng xe ô tô để chở Bọ hung đi bán trái phép qua biên giới Việt Nam – Trung Quốc. Khoảng 14 giờ cùng ngày, T1 gặp Tẩn A tại thành phố L, X giao cho T1 05 bao tải chứa xác Bọ hung đã khô cân được 120 kg. T1 dùng điện thoại quay gửi cho V xem, T1 và V thống nhất giá mua bán là 320 Nhân dân tệ/1kg Bọ hung (tương đương 1.070.000 đồng Việt Nam). Lúc này, T1 chuyển khoản thêm số tiền 40.000.000 đồng qua Ngân hàng A, đồng thời đưa 10.000.000 đồng tiền mặt cho X, số tiền còn lại 20.000.000 đồng Thơ hẹn khi nào bán được Bọ hung sẽ trả Xoang. Sau đó, T1 cho 05 bao tải Bọ hung lên xe ô tô chở đi về nhà Thơ ở xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, mục đích để đến tối sẽ vận chuyển đến biên giới Việt Nam - Trung Quốc bán cho V. Khoảng 19 giờ cùng ngày, khi đi đến bản Nhóm 2, xã V, huyện P, do lo sợ bị lực lượng Bộ đội Biên phòng phát hiện, T1 để 05 bao tải Bọ hung ở lề đường rồi gọi điện thoại bảo Phàn Phủ Q sinh năm 1984 trú tại bản Xin Chải, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, tìm thêm 02 người chở thuê bằng xe mô tô với giá 100 Nhân dân tệ/người (tương đương 334.377 đồng Việt Nam). Khi gọi điện, T1 bảo Q chở Bọ hung về nhà, không nói về việc sẽ bán trái phép qua biên giới Việt Nam – Trung Quốc. Quần rủ thêm Phàn Lao T sinh năm 2003, Phàn Chin P1 sinh năm 1992 đều trú cùng bản với Q đi cùng. Sau đó, Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 25B1-704.03, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 89L3-0737, P1 điều khiển xe mô tô biển 25P1-016.56 đi đến điểm hẹn chở Bọ hung. Hồi 19 giờ 40 phút ngày 16/6/2024, tại bản nhóm 2, xã V, huyện P, khi Q, T, P1 vừa chằng 05 bao tải Bọ hung lên xe mô tô thì bị lực lượng Công an huyện P đi tuần tra kiểm soát phát hiện, lập biên bản sự việc, thu giữ toàn bộ vật chứng. Quần, T, P1 khai nhận vận chuyển thuê Bọ hung cho T1, Cơ quan điều tra triệu tập T1 đến làm việc, T1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Ngày 17/6/2024, Cơ quan điều tra tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, kết quả: Số côn trùng màu đen, đã khô đựng trong 05 bao tải thu giữ của Tẩn C có tổng khối lượng là 119,55 kg. Tại Bản kết luận giám định số 1012/STTNSV ngày 21/6/2024 của V1 kết luận: 01 kg xác côn trùng màu đen, đã khô gửi giám định là loài Bọ hung có tên khoa học Catharsius molossus. Loài Bọ hung không có tên trong các Danh mục loài nguy cấp, quý hiếm của Chính phủ và Danh mục loài của công ước CITES.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 10 ngày 30/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P, kết luận: 119,55 kg xác con Bọ hung màu đen, đã khô có tổng trị giá là 117.558.000 đồng.

Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu giám định để khôi phục dữ liệu trên chiếc điện thoại tạm giữ của Tẩn C, kiểm tra dữ liệu trong chiếc đĩa DVD (gửi kèm Kết luận giám định số 1028 ngày 26/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh L) phát hiện trong chiếc điện thoại thu giữ của Tẩn C có phát sinh liên lạc qua ứng dụng Wechat giữa Tẩn C và người đàn ông Trung Quốc, có tin nhắn chuyển tiền qua tài khoản Ngân hàng A cho Tẩn A.

Ngày 13/01/2025, Cơ quan điều tra phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tiến hành thực nghiệm điều tra cho Tẩn Chỉn T1 diễn lại toàn bộ quá trình mua Bọ hung để bán trái phép qua biên giới Việt Nam - Trung Quốc, kết quả: Thơ đã thực hiện lại hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai tại Cơ quan điều tra.

Bản cáo trạng số 10/CT-VKSPT ngày 06/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo Tẩn Chỉn T1 về tội “Buôn lậu” theo quy định tại khoản 1 Điều 188 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về bản kết luận điều tra số 114/KLĐT-CQĐT ngày 21/10/2024 và bản kết luận điều tra số 05/KLĐT-CQĐT ngày 19/01/2025 của Cơ quan CSĐT Công an huyện P và bản Cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 188; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án tù bằng thời hạn tạm giam, áp dụng khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự để trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa về tội “Buôn lậu”; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 12 Pro Max thu giữ của bị cáo. Đối với chiếc đĩa DVD chứa dữ liệu khôi phục trên chiếc điện thoại của bị cáo đề nghị lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa người bào chữa nhất trí với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo, không bổ sung thêm ý kiến gì.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa là anh Phùng Văn H không có yêu cầu hay đề nghị gì. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, trong quá trình điều tra không có yêu cầu hay đề nghị gì. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa và người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Người bào chữa đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, xét thấy trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ các lời khai của những người này trong quá trình điều tra do vậy sự vắng mặt của họ tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Chiều ngày 16/6/2024, tại thành phố L, Tẩn Chỉn T1 đã mua 119,55 kg bọ hung, không rõ nguồn gốc xuất xử có tổng trị giá 117.558.000 đồng của Tẩn A, mục đích để bán trái phép qua biên giới Việt Nam – Trung Quốc. Đến hồi 19 giờ 40 phút ngày 16/6/2024 tại bản Nhóm 2, xã V, huyện P, khi Phàn Phủ Q, Phàn Lao T, Phàn Chin P1 đang vận chuyển thuê số bọ hung trên cho T1 thì bị Công an huyện P phát hiện, lập biên bản sự việc, thu giữ toàn bộ vật chứng. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc đưa hàng hóa không được sự cho phép của Nhà nước qua biên giới là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn mong muốn thực hiện, hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt theo quy định tại khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo là ít nguy hiểm nhưng đã xâm phạm đến hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước về xuất khẩu, nhập khẩu và làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần thiết phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn lậu” theo quy định tại khoản 1 Điều 188 Bộ luật Hình sự. Đối với quan điểm bào chữa của người bào chữa tại phiên tòa không mâu thuẫn với nội dung luận tội của Kiểm sát viên. Vì vậy, quan điểm đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn rất thấp (01/12).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt tương xứng đối với bị cáo đủ để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 188 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định nhưng xét thấy bị cáo nghề nghiệp tự do, thu nhập không ổn định, là lao động chính của gia đình, hiện đang nuôi con nhỏ, không có chức vụ, không có nghề nghiệp, công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu hay đề nghị gì nên không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 03 chiếc xe mô tô cùng đăng ký xe, 03 chiếc điện thoại di động và 01 xe ô tô bị tạm giữ thuộc sở hữu của Phàn Phủ Q, Phàn Lao T, Phàn Chin P1, Phùng Văn H. Quá trình điều tra, xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại các tài sản trên cho các chủ sở hữu hợp pháp là Q, T, P1, H là phù hợp.

Đối với 119,55 kg Bọ hung thu giữ của Tẩn C, Cơ quan điều tra đã lấy ngẫu nhiên 01 kg làm mẫu vật gửi giám định (không hoàn lại); 118,55kg Bọ hung còn lại là vật chứng mau hỏng và không bán được, ngày 20/9/2024 Cơ quan điều tra đã tiến hành tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

Vật chứng còn lại của vụ án là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 12 Pro Max, xét thấy đây là công cụ dùng vào việc phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu sung, hóa giá sung công quỹ Nhà nước. Đối với chiếc đĩa DVD chứa dữ liệu khôi phục trên chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo cần tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

[7] Những vấn đề liên quan:

Tẩn Chỉn T1, Tẩn A là những người mua bán, Phàn Phủ Q, Phàn Lao T, Phàn Chin P1 vận chuyển thuê bọ hung cho T1 và đã được gửi giám định kết luận loài bọ hung có tên khoa học Catharsius molossus. Loài Bọ hung không có tên trong các danh mục loài nguy cấp, quý hiếm của Chính phủ và Danh mục loài của công ước CITES nên Thơ, X, Q, T, P1 không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm quy định tại các điều 234, 244 Bộ luật Hình sự.

Đối với Phùng Văn H là người cho Tẩn C1 Thơ mượn xe ô tô biển kiểm soát 25A-049.81; Chẻo Mỹ C là người đi cùng; Tân A X là người bán 119,55kg Bọ hung; Phàn Phủ Q, Phàn Lao T, Phàn Chin P1 vận chuyển thuê bọ hung cho T1. Quá trình điều tra xác định H, C, X, Q, T, P1 đều không biết việc T1 mua bọ hung mục đích để bán trái phép qua biên giới Việt Nam - Trung Quốc nên không phải là đồng phạm trong vụ án.

Đối với người đàn ông Trung Quốc tên “Vệ” nhận mua bọ hung, Tẩn C không rõ nhân thân, lai lịch của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý là phù hợp.

Đối với hành vi mua bán Bọ hung không rõ nguồn gốc xuất xứ ngày 16/6/2024 của Tẩn A X, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu đến Ủy ban nhân dân huyện P để xử phạt vi phạm hành chính đối với X theo quy định.

Quá trình điều tra, Tẩn Chỉn T1 còn khai nhận: Trong năm 2023, T1 có 02 lần mua tổng số 60kg Bọ hung của Tẩn A X rồi mang đến mốc 71 biên giới Việt Nam - Trung Quốc bán kiếm lời. Cuối tháng 05/2024, T1 và Tẩn Vần S cùng nhau mua 30 kg Bọ hung của X bán cho một người không rõ lai lịch tại bản S, xã M, huyện P. Ngoài lời khai của những người liên quan, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không thu giữ được vật chứng, không thu thập được tài liệu liên quan để xác định chính xác đặc điểm, chủng loại, khối lượng Bọ hung. Cơ quan điều tra đã yêu cầu định giá tài sản của 03 lần mua bán trên nhưng Hội đồng định giá tài sản huyện P từ chối định giá. Do vậy, không đủ căn cứ để xử lý T1, X, S đối với các lần mua bán Bọ hung này là đúng quy định.

[8] Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 188; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, khoản 3 Điều 57; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106, các Điều 135; 136; 328, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tẩn Chỉn T1 phạm tội "Buôn lậu".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 06 (Sáu) tháng 28 (Hai mươi tám) ngày tù (Thời hạn tù bằng với thời hạn tạm giam, trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa).
  3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 12 Pro Max màu vàng, có ốp lưng màu nâu đen, số EMEI 1: 356718115758820, EMEI 2: 356718115625474, có 01 sim V2, trên sim có in hàng số 8984048000330721605, điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong. Tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án đối với chiếc đĩa DVD chứa dữ liệu khôi phục trên chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 07/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ).
  5. Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai lên Tòa án nhân dân cấp trên.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Phong Thổ;
  • - Chi Cục THADS huyện Phong Thổ;
  • - CQCS ĐT Công an huyện Phong Thổ;
  • - CQ THAHS Công an huyện Phong Thổ;
  • - Nhà tạm giữ, CA huyện Phong Thổ;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Văn Đoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu về tội buôn lậu

  • Số bản án: 37/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Buôn lậu
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tẩn Chỉn Th
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger