TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 37/2025/HS-ST Ngày: 14-02-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Diệu, ông Nguyễn Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Phan – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Y Khang Êban - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Minh H; Tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; Sinh ngày 03 tháng 4 năm 1992, tại tỉnh Đắk Lắk ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: Trương Minh H1, sinh năm: 1969; Họ và tên mẹ: Lê Thị Ngọc P, sinh năm: 1975; Bị có vợ là Lê Thị Xuân H2, sinh năm: 1992 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2015; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Ngày 11/10/2024 bị bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý, đến ngày 21/10/2024 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B khởi tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B đến ngày 12/10/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Lê Thái B (Vắng mặt)
- Địa chỉ: A Y, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk
- + Ông Đào Vĩnh P1 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Buôn M, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Minh H là người nghiện ma túy loại Methamphetamine hay còn gọi là ma tuý đá. Qua mối quan hệ ngoài xã hội, H quen biết một người phụ nữ tên thường gọi là X (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) là người bán ma tuý đá. Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 11/10/2024, H sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim thuê bao số 0941.427.773 đăng nhập tài khoản Zalo tên “Minh Hảo” của H liên lạc vào tài khoản Zalo tên “F. Cô X” của X hỏi mua ma tuý đá thì X đồng ý và hẹn đến khu vực đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để bán ma tuý. Sau đó, H điều khiển xe Mô tô biển số 47B1 – 450.73 đến điểm hẹn gặp X thì X bán cho H 01 gói ma tuý đá với số tiền 500.000 đồng. Mua được ma tuý xong, đến khoảng 18 giờ 30 cùng ngày, H cất giấu ma tuý trong người rồi điều khiển xe Mô tô biển số 47B1 – 450.73 đến khu vực trước nhà nghỉ N1 ở địa chỉ số A Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thì bị lực lượng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố B phát hiện bắt quả tang, tạm giữ vật chứng vụ án.
Tại bản Kết luận giám định số 1681/KL-KTHS, ngày 17/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ:
Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2830 gam, loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số: 34/CT-VKSTP-BMT ngày 16/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố Trương Minh H về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Trương Minh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã phân tích, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trương Minh H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Trương Minh H mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Đối với mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,2441 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu, được niêm phong trong 01 phong bì số 1681/KL-KTHS ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Trương Minh H – BMT", có các chữ ký ghi Trần Văn K, Lê Khắc N và đóng dấu màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh Đ là tang vật của vụ án, cần tịch thu tiêu hủy.
Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, số Imei: 354245337884913, gắn sim thuê bao số 0941.427.773 của bị cáo Trương Minh H liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Chấp nhận cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả 01 chiếc xe Mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn vàng đen, biển số 47B1 – 450.73, số máy 5C64883624, số khung RLCS5C640CY883617 cho anh Lê Thái B là chủ sở hữu hợp pháp nhận quản lý sử dụng.
Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì, chỉ đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Xét thấy tại cơ quan điều tra người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã có lời khai đầy đủ, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng tới quá trình giải quyết vụ án. Do đó căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự để tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[2] Về nội dung:
[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo: Vào ngày 11/10/2024, tại khu vực trước nhà nghỉ N1 ở địa chỉ số A Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Trương Minh H có hành vi cất giấu 0,2830 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích sử dụng thì bị lực lượng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố B, tỉnh Đắk Lắk phát hiện bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo Trương Minh H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Trương Minh H là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm
a)...
c) Heroin, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam"
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy và gây mất trật tự trị an trên địa bàn địa phương. Bị cáo biết tác hại của ma túy, việc tàng trữ ma túy bị nghiêm cấm, song do ý thức coi thường pháp luật bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức hình phạt đủ nghiêm, buộc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm chung trong xã hội.
[2.2] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Hội đồng xét xử xét thấy, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó, cần xem xét áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[2.3] Các vấn đề khác :
Đối với đối tượng nữ giới tên X bán ma túy cho bị cáo Trương Minh H ở khu vực đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình điều tra vụ án cho đến nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này. Nên, Cơ quan Cảnh sát điều tra tách hành vi của đối tượng này ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
[2.4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,2441 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu, được niêm phong trong 01 phong bì số 1681/KL-KTHS ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Trương Minh H – BMT", có các chữ ký ghi Trần Văn K, Lê Khắc N và đóng dấu màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh Đ là tang vật của vụ án.
[2.5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 249 Bộ luật hình sự
Tuyên bố: bị cáo Trương Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: bị cáo Trương Minh H 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/10/2024
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,2441 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu, được niêm phong trong 01 phong bì số 1681/KL-KTHS ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Trương Minh H – BMT", có các chữ ký ghi tên: Trần Văn K, Lê Khắc N và đóng dấu màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh Đ.
Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, số Imei: 354245337884913, gắn sim thuê bao số 0941.427.773 (điện thoại trên đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động và chi tiết bên trong, không kiểm tra số sim)
(Vật chứng có đặc điểm và số lượng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/01/2025 giữa Công an thành phố B và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột)
Chấp nhận cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả 01 chiếc xe Mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn vàng đen, biển số 47B1 – 450.73, số máy 5C64883624, số khung RLCS5C640CY883617 cho anh Lê Thái B là chủ sở hữu hợp pháp nhận quản lý sử dụng.
* Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trương Minh H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm ngày) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hoài Trang |
Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 37/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Minh H
