Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN TÂN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/HS-ST

Ngày 17-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Đình Cường.

2. Ông Nguyễn Nam Giang.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thuý Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn Q, sinh ngày 01/01/1994 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản B, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn M (đã chết) và con bà: Lò Thị H, sinh năm 1969; vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không;

- Tiền án: Bị cáo có 05 tiền án chưa được xoá án tích, cụ thể:

  • + Tại bản án hình sự sơ thẩm số 20/2015/HSST ngày 29/6/2015 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xử phạt Lò Văn Q 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 24/3/2016 Lò Văn Q chấp hành xong hình phạt tù.
  • + Tại bản án hình sự sơ thẩm số 37/2016/HSST ngày 26/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xử phạt Lò Văn Q 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Đến tháng 01/2018 Lò Văn Q chấp hành xong hình phạt tù.
  • + Tại bản án hình sự sơ thẩm số 111/2018/HSST ngày 20/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt Lò Văn Q 24 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
  • + Tại bản án hình sự sơ thẩm số 13/2019/HSST ngày 23/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tuyên phạt Lò Văn Q 01 năm 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp với hình phạt 24 tháng tù tại bản án số 111/2018/HSST ngày 20/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Lò Văn Q phải chấp hành hình phạt chung là 03 năm 08 tháng tù.
  • + Tại bản án hình sự sơ thẩm số 40/2019/HSST ngày 23/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xử phạt Lò Văn Q 21 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp với hình phạt 03 năm 8 tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 13/2019/HSST ngày 23/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, Lò Văn Q phải chấp hành hình phạt chung là 05 năm 05 tháng tù. Ngày 03/01/2024 Lò Văn Q chấp hành xong án phạt tù.

Về nhân thân: Ngày 11/10/2012 Ủy ban nhân dân tỉnh L ra quyết định hành chính đưa vào cơ sở giáo dục số 1080/QĐ-UBND thời gian 24 tháng đối với Lò Văn Q. Đến tháng 8/2014 Lò Văn Q chấp hành xong quyết định này.

- Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 27/7/2024, đến ngày 05/8/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Anh Lường Văn G, sinh năm 1979, trú tại: bản B, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trần Xuân T, sinh năm 1983 trú tại tiểu khu A, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La (vắng mặt).
  2. Chị Lò Thị B, sinh năm 2003 (vắng mặt).
  3. Ông Lò Văn D, sinh năm 1980 (vắng mặt).

Đều trú tại: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lò Văn Q là người đã có 05 tiền án đều chưa được xóa án tích. Khoảng hơn 00 giờ ngày 31/5/2024, Q sang nhà chị gái ruột là chị Lò Thị B1 để mượn xe mô tô để đi ra thị trấn T chơi nhưng chị B1 không đồng ý. Sau đó Q đi bộ qua nhà Lường Văn G, sinh năm 1979 trú cùng bản thì thấy nhà anh G đã đóng cửa nhà. Lúc này Q nhìn thấy ở sân nhà anh G để 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25U1-002.62, nhãn hiệu Honda, số loại Wave S, màu sơn: xanh, xám, đen là xe của G nên Q nảy sinh ý định trộm chiếc xe này làm phương tiện đi lại. Quỳnh quan sát xung quanh không có ai nên đi vào sân và tiến lại gần chiếc xe thì thấy chìa khóa xe vẫn đang cắm tại ổ khóa. Sau đó Q dắt chiếc xe này đi ra ngoài đường cách nhà G khoảng 50 mét rồi mở khóa và đề nổ máy điều khiển xe đi chơi và không về nhà. Sau đó do không có tiền tiêu xài nên Q nảy sinh ý định mang chiếc xe này đi bán. Đến ngày 02/6/2024, Q điều khiển chiếc xe mô tô trộm cắp được đi về hướng huyện T, mục đích mang sang tỉnh Sơn La để bán xe. Khi Q đi qua khu vực nhà văn hóa xã C, huyện T thì dừng xe rồi mở cốp xe kiểm tra thì thấy trong cốp có 01 chiếc ví da màu đen đã cũ, bên trong ví có đăng ký xe mô tô mang tên Lường Văn G và một số giấy tờ tuỳ thân của G (trong ví không có tiền). Thấy vậy Q lấy đăng ký xe mô tô mang theo để tiện bán xe còn chiếc ví da và các giấy tờ bên trong thì Q vứt lại gần Nhà văn hóa xã C rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô sang Sơn La. Khi đến thành phố S, Q mang chiếc xe trộm được đến cửa hàng mua bán xe mô tô “Tùng Hải” do anh Trần Xuân T làm chủ bán chiếc xe này kèm theo đăng ký xe cho anh T được số tiền 3.000.000 đồng. Quá trình trao đổi mua bán xe Q không nói cho anh T biết về nguồn gốc xe là do trộm cắp mà có. Sau khi có tiền bán xe Q đã đem số tiền này đi tiêu sài cá nhân hết.

Sau khi mua xe của Q, Trần Xuân T đã sửa chữa lại, đến ngày 13/6/2024 T đã bán lại chiếc xe này cho chị Lò Thị B với giá 6.800.000 đồng, mục đích mua xe của Binh cho bố đẻ là Lò Văn D sử dụng. Sau khi mua xe xong Binh giao chiếc xe này cho Lò Văn D quản lý, sử dụng. Quá trình giao dịch mua bán xe, B đã chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng trả cho T đúng số tiền 6.800.000 đồng và nhận xe kèm theo đăng ký xe mang tên Lường Văn G. Đến ngày 17/9/2024 Cơ quan điều tra Công an huyện T đã phát hiện và thu giữ chiếc xe mô tô trên kèm đăng ký xe từ Lò Văn D để phục vụ quá trình điều tra vụ án.

Ngày 26/7/2024, ông Lường Văn G phát hiện mất xe mô tô nên đã làm đơn trình báo và đề nghị Công an xã T, huyện T điều tra, làm rõ vụ trộm cắp tài sản có liên quan đến chiếc xe mô tô của G. Đến ngày 27/7/2024 Lò Văn Q đã đến cơ quan điều tra công an huyện T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp xe mô tô của bản thân.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐGTS, ngày 02/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện T, tỉnh Lai Châu kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave S, biển kiểm soát 25U1-002.62, màu sơn: xanh, xám, đen; số khung: 130652; số máy: 1685497, xe đã qua sử dụng có trị giá 4.166.000 đồng; 01 chiếc ví da màu đen, loại ví nam có một khóa kéo, không rõ nhãn hiệu, bên ngoài ví được in chìm chữ B, đã qua sử dụng có trị giá 106.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 4.272.000 đồng.

Cáo trạng số 07/CT-VKS-TU ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố Lò Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn Q mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản", truy thu đối với bị cáo số tiền 3.000.000 đồng, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lường Văn G không đề nghị bị can Lò Văn Q bồi thường gì. Anh Trần Xuân T không yêu cầu bị can Lò Văn Q phải trả lại số tiền 3.000.000 đồng. Lò Văn D và Lò Thị B đều không đề nghị gì nên không xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có tranh luận gì.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, HĐXX đủ cơ sở để kết luận:

Lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, khoảng hơn 00 giờ ngày 31/5/2024 tại bản Bút Dưới, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu, Lò Văn Q là người đã có 05 tiền án đều chưa được xóa án tích và đã bị áp dụng tình tiết tái phạm, đã thực hiện hành vi trộm cắp, chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave S, biển kiểm soát 25U1-002.62, màu sơn: xanh, xám, đen; số khung: 130652; số máy: 1685497, xe đã qua sử dụng có trị giá 4.166.000 đồng và 01 chiếc ví da màu đen, loại ví nam có một khóa kéo, không rõ nhãn hiệu, bên ngoài ví được in chìm chữ B, đã qua sử dụng có trị giá 106.000 đồng đều do Lò Văn Q trộm cắp của Lường Văn G, sinh năm 1979, trú tại bản Bút Dưới, xã T, huyện T. Tổng trị giá tài sản Lò Văn Q trộm cắp là 4.272.000 đồng. Sau đó Q mang chiếc xe trộm cắp được sang tỉnh Sơn La bán cho Trần Xuân T được 3.000.000 đồng rồi tiêu xài cá nhân hết.

Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lười lao động, muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo là người có 05 tiền án, đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên hành vi trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, do vậy cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Về nhân thân: Bị cáo Lò Văn Q có nhân thân rất xấu, năm 2012 bị cáo đã bị Ủy ban nhân dân tỉnh L ra quyết định hành chính đưa vào cơ sở giáo dục với thời gian 24 tháng. Từ năm 2015 đến năm 2019, bị cáo đã bị Toà án xét xử 05 lần về các tội phạm liên quan đến hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật, do vậy quá trình lượng hình Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đảm bảo tính răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lò Văn Q không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động tự do không có việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xem xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Bị hại Lường Văn G đã nhận lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave S, biển kiểm soát 25U1-002.62, màu sơn: xanh, xám, đen; số khung: 130652; số máy: 1685497, xe đã qua sử dụng và 01 chiếc ví da màu đen, loại ví nam có một khóa kéo, không rõ nhãn hiệu, bên ngoài ví được in chìm chữ B, đã qua sử dụng do bị cáo Q trộm cắp và không đề nghị bị cáo Lò Văn Q bồi thường gì. Anh Trần Xuân T không yêu cầu bị cáo Lò Văn Q phải trả lại số tiền 3.000.000 đồng. Ông Lò Văn D và chị Lò Thị B đều không đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[8] Về các vấn đề liên quan đến vụ án:

Đối với Trần Xuân T là chủ cửa hàng mua bán xe mô tô đã mua chiếc xe do Lò Văn Q trộm cắp mà có. Quá trình điều tra xác định quá trình mua bán xe T không biết chiếc xe này do Q trộm cắp mà có, T có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, vì vậy cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Trần Xuân T là đúng quy định.

Đối với Lò Văn D và Lò Thị B là người mua lại chiếc xe mô tô của Trần Xuân T. Quá trình điều tra xác định B và D đều không biết rõ nguồn gốc chiếc xe này và cũng không biết chiếc xe này do trộm cắp mà có, vì vậy cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Lò Văn D và Lò Thị B là đúng quy định.

Đối với số tiền bán xe 3.000.000 đồng bị cáo Q đã mang tiêu xài cá nhân hết, đây là số tiền bất chính do bị cáo phạm tội nên cần truy thu sung quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lò Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt bị cáo Lò Văn Q 02 năm 10 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/07/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 3.000.000 đồng đối với bị cáo Lò Văn Q.
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lò Văn Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi ích hợp pháp của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Tân Uyên;
  • - Chi Cục THADS huyện Tân Uyên;
  • - CQTHAHS Công an huyện Tân Uyên;
  • - CQCSĐT Công an huyện Tân Uyên;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu HSVA./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 37/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo trộm cắp tài sản theo k1 Điều 173 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger