Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/DS-PT

Ngày 13-02-2025

“Tranh chấp quyền sử dụng đất.”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mến

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Long

Ông Lê Văn Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Duy Quyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 268/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 149/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 30/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự

  • - Nguyên đơn: Bà Dương Thị N, sinh năm 1961 (có mặt);
  • Địa chỉ: Ấp P, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  • - Bị đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1957 (có mặt);
  • Địa chỉ: Ấp P, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lê Văn T: Bà Trần Thị H – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (có mặt);
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Dương Minh T1, sinh năm 1978 (có mặt);
    2. Ông Dương Minh T2, sinh năm 1951 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
    3. Bà Dương Thị D, sinh năm 1964 (có mặt);
    4. Địa chỉ: Ấp P, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
    5. Ông Dương Văn D1, sinh năm 1952 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
    6. Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
    7. Bà Dương Thị S, sinh năm 1954 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
    8. Địa chỉ: Ấp L, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
    9. Ông Dương Văn H1, sinh năm 1968 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
    10. Bà Huỳnh Thị Đ, sinh năm 1957 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
    11. Bà Lê Thị P, sinh năm 1978 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
    12. Ông Lê Minh T3, sinh năm 1982 (có mặt);
    13. Ông Lê Minh T4, sinh năm 1985 (có mặt);
    14. Ông Hồ Minh K, sinh năm 2000 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
    15. Cùng địa chỉ: Ấp P, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  • - Người kháng cáo: Bà Dương Thị N là nguyên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 15 tháng 5 năm 2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay bà Dương Thị N trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số 340, tờ bản đồ số 3, diện tích 13.936 m², loại đất trồng cây lâu năm, địa chỉ thửa đất ấp P, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh là của cha mẹ bà N là ông Dương Văn D2, sinh năm 1924 (mất năm 1998) và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1925 (mất năm 2008) nhưng ông Lê Văn T thực hiện hành vi lấn chiếm trái phép. Hiện nay ông T đã san lấp và trồng cây bưởi trên phần đất này. Khi thực hiện công trình đường điện, gia đình bà N mới phát hiện ông T đã lấn chiếm một phần đất diện tích 982 m² thuộc 01 phần thửa 340. Nay bà yêu cầu ông Lê Văn T trả lại cho gia đình bà diện tích 982 m² thuộc 01 phần thửa đất 340 tờ bản đồ số 3, loại đất trồng cây lâu năm, địa chỉ thửa đất: ấp P, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

* Theo bản tự khai ngày 20 tháng 11 năm 2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Lê Văn T trình bày:

Diện tích 982 m² thuộc 01 phần thửa 340 nguồn gốc là do cha ông là ông Lê Văn C để lại cho ông vào năm 1980, diện tích này liền kề với diện tích của gia đình ông thửa 341, diện tích 1.776 m² và thửa 342, diện tích 1717 m², đất tọa lạc tại ấp P, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Đất này là đất biền có lá, lác và có một con xẻo nằm giữa đất chạy dài tới mé sông. Gia đình ông sử dụng ổn định và cải tạo để trồng vườn. Năm 1990, ông đã lên liếp cặp ranh với ông Dương Văn D2 có sự chứng kiến của ông Dương Văn D2 và cha ông Lê Văn C chỉ ranh. Đến năm 2002, ông lên liếp phần đất trên và cũng không có ai tranh chấp hay ngăn cản. Đến tháng 02 năm 2023 điện lực mời dự nâng trụ điện thì bà Dương Thị N ra tranh chấp nói là đất của ông D2 đã đăng ký sổ mục kê năm 1992 và yêu cầu ông trả lại diện tích 982 m² thuộc thửa đất 340 mà ông D2 đã đăng ký. Ông không đồng ý vì nguồn gốc đất là của gia đình ông sử dụng ổn định từ xưa tới nay.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 149/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đã xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị N yêu cầu ông Lê Văn T trả lại quyền sử dụng đất gồm phần A (diện tích 234,2 m² thuộc rạch), phần B (16,4 m² thuộc thửa 340, tư liệu 2006 thuộc kênh), phần C (221 m² thuộc thửa 340 tư liệu 2006 thuộc kênh), phần D (580,7 m² thuộc thửa 340, tờ bản đồ số 3 tư liệu 2006 thuộc thửa 68, tờ bản đồ số 28), phần C (24,1 m² thuộc rạch), đất tọa lạc tại ấp P, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Công nhận và giao cho ông Lê Văn T được tiếp tục quản lý, sử dụng phần diện tích đất thuộc phần D là 580,7 m² thuộc thửa 340, tờ bản đồ số 3 (Nay là thửa 68, tờ bản đồ số 28) đất tọa lạc tại ấp P, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh. (Có sơ đồ khu đất kèm theo)

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí thẩm định, định giá, án phí, quyền kháng cáo, theo quy định của pháp luật.

Ngày 09/9/2024 nguyên đơn bà Dương Thị N kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm 149/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh theo hướng giao cho bà phần diện tích 982m² thuộc thửa 340, tờ bản đồ số 03, tọa lạc ấp P, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ kiện.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Lê Văn T trình bày: Căn cứ theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như diễn biến và tranh tụng công khai tại phiên toà hôm nay, xét thấy yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Dương Thị N là không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 149/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Từ khi thụ lý vụ án đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử phúc thẩm. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với đương sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Căn cứ theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như diễn biến và tranh tụng công khai tại phiên toà hôm nay. Xét thấy yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Dương Thị N kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm số 149/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh theo hướng giao cho bà phần diện tích 982m² thuộc thửa 340, tờ bản đồ số 03, tọa lạc ấp P, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh là không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 149/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ của các đương sự và quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: sau khi xét xử sơ thẩm nguyên đơn bà Dương Thị N kháng cáo, việc kháng cáo của đương sự còn trong hạn luật định nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  2. Xét về yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Dương Thị N kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm số 149/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh theo hướng giao cho bà phần đất tranh chấp thuộc thửa 340, tờ bản đồ số 03, tọa lạc ấp P, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Hội đồng xét xử nhận thấy: Bà Dương Thị N và các anh chị em của bà trình bày phần đất tranh chấp hiện tại 580,7 m² thuộc thửa đất 340 là của cha bà là ông Dương Văn D2 để lại nhưng do phía ông Lê Văn T lấn chiếm sử dụng, bà N cũng thừa nhận là ông T đã sử dụng phần đất này từ năm 1996 nhưng bà cũng không ngăn cản và bà cũng thừa nhận trước đây bà không có sử dụng thửa đất 340 và phần đất tranh chấp hiện nay, cho đến khi đường điện đi qua bà mới biết phần đất đang tranh chấp với ông T như hiện nay là nhiều khoảng 1.000m² nhưng thực tế là 580,7m² còn lại là rạch (kinh). Khi cha bà là ông D2 còn sống đã đăng ký kê khai không có tranh chấp với ông T hiện nay.
  3. Lời trình bày của những người làm chứng như ông Lê Văn Q, ông Lê Văn N2, ông Nguyễn Văn Đ1 xác nhận: Phần đất tranh chấp là của ông Lê Văn C (cha ông T) đến năm 1980 giao lại cho ông T sử dụng, ông Tư cải T5 đất, đắp xẻo, trồng cây, ông T và gia đình sử dụng công khai, ổn định từ trước đến nay và trong quá trình sử dụng có cải tạo đất như đắp xẻo, lên liếp trồng cây lâu năm không ai tranh chấp hay ngăn cản; lúc ông D2 còn sống cũng không tranh chấp, từ trước đến nay ông D2 không có sử dụng phần đất tranh chấp và hiện nay gia đình bà N cũng không còn phần đất nào liền kề với phần đất của ông Lê Văn T.
  4. Theo Công văn số 1494/CNHCT ngày 27/6/2024 của Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện C cung cấp đối với thửa đất số 340 thể hiện thông tin khê khai đăng ký đất qua các thời kỳ là do ông Dương Văn D2 (cha nguyên đơn) kê khai nhưng không có sử dụng phần đất tranh chấp, phía bị đơn không có kê khai. Tuy nhiên xem xét về quá trình thực tế canh tác sử dụng thì phía bị đơn là người trực tiếp sử dụng công khai, liên tục nga y tình không ai ngăn cản tranh chấp từ năm 1980 đến nay. Nên có cơ sở cho rằng bị đơn ông T có quyền sử dụng đối với phần đất đang tranh chấp nêu trên theo quy định tại Điều 180, 182, 183, 236 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  5. Ngày 05/9/2024 UBND xã S, huyện C xác nhận phần đất tranh chấp có diện tích 580,7m² thuộc thửa đất 340 do ông T sử dụng ổn định không có tranh chấp. Cho thấy ông T có đủ điều kiện để được công nhận quyền sử dụng phần đất nêu trên.

Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào thực tế quá trình sử dụng đất, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Từ những nhận định và phân tích trên xét thấy yêu cầu kháng cáo của bà Dương Thị N là không có căn cứ chấp nhận. Riêng tại phiên tòa phúc thẩm bà cung cấp về thông báo về việc giải phóng bồi thường đối với diện tích tranh chấp của UBND huyện C thông báo này là có căn cứ bởi vì vụ án chưa được kết thúc mà hiện nay đang tranh chấp. Phía bên ông T là người trực tiếp quản lý sử dụng nhưng đăng ký kê khai lại là ông Dương Văn D2 là cha của bà N.

  1. Đề nghị của Kiểm sát viên xét xử phúc thẩm là phù hợp với quy định pháp luật cũng như nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Dương Thị N không được chấp nhận nên bà N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, do bà Dương Thị N là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Dương Thị N.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 149/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị N yêu cầu ông Lê Văn T trả lại quyền sử dụng đất gồm phần A (diện tích 234,2 m² thuộc rạch), phần B (16,4 m² thuộc thửa 340, tư liệu 2006 thuộc kênh), phần C (221 m² thuộc thửa 340 tư liệu 2006 thuộc kênh), phần D (580,7 m² thuộc thửa 340, tờ bản đồ số 3 tư liệu 2006 thuộc thửa 68, tờ bản đồ số 28), phần C (24,1 m² thuộc rạch), đất tọa lạc tại ấp P, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  2. Công nhận và giao cho ông Lê Văn T được tiếp tục quản lý, sử dụng phần diện tích đất thuộc phần D là 580,7 m² thuộc thửa 340, tờ bản đồ số 3 (Nay là thửa 68, tờ bản đồ số 28) đất tọa lạc tại ấp P, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh. (Có sơ đồ khu đất kèm theo)

Căn cứ bản án có hiệu lực pháp luật, ông Lê Văn T được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần diện tích phần D trên thuộc thửa 340, tờ bản đồ số 3 (nay là thửa 68, tờ bản đồ số 8) theo quy định của pháp luật.

Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan tài nguyên và môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Dương Thị N.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND huyện Châu Thành;
  • - Cục THADS tỉnh Trà Vinh;
  • - Chi cục THADS H. Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Mến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/DS-PT ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 37/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger