Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐIỆN BIÊN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày: 26/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yên
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kim Khánh Tùng
  • Ông Cà Văn Danh
  • - Thư ký phiên toà: Bà Lò Thị Hòa – Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với Bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1969, tại Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; Con ông: Nguyễn Văn L – Sinh năm 1930 (Đã chết) và con bà: Nguyễn Thị N – Sinh năm 1931 (Đã chết); Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1972; Bị cáo có 03 con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 2002; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 13/01/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 19/2011/HSST, ngày 04/6/2012 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương, hiện bị cáo đã được xóa án tích đối với bản án trên, bị cáo chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/10/2024 sau đó chuyển sang tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T1 – Sinh năm 1994 – Địa chỉ: Thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 05/10/2024, Nguyễn Văn T một mình đi xe mô tô biển kiểm soát 27AA-067.14 của anh Nguyễn Văn T1 (con trai của T) từ nhà tại thôn D, xã P, huyện Đ đến xã T, huyện Đ mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại khu vực ven đường gần trạm y tế xã T, T gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc T2 khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ 01 gói Methamphetamine với giá 500.000 đồng. Mua xong, T cầm gói Methamphetamine trong tay trái rồi điều khiển xe đi về. Hồi 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đi đến khu vực thôn Y, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tay trái của T đang cầm 01 gói nilon màu trắng, bên trong có 18 viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp có tổng khối lượng 1,71 gam, tạm giữ 01 chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 27AA – 067.14, nhãn hiệu DREAMTHAILANNA, màu sơn đỏ, xe cũ đã qua sử dụng.

Tại biên bản làm việc về việc mở niêm phong xác định khối lượng và niêm phong vật ma túy tổng hợp có khối lượng là 1,71 gam gửi toàn bộ giám định.

Tại bản kết luận giám định số 1574/KL-KTHS ngày 11/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn T có khối lượng 1,71 gam các viên nén màu hồng là chất ma túy: Loại Methamphetamine. Kèm theo kết luận giám định hoàn lại đối tượng giám định có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo.

Tại bản cáo trạng số 230/CT-VKSHĐB ngày 07/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo: Từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy gồm: 1,51 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại sau giám định, 01 mảnh nilon màu trắng.

Trả lại cho anh Nguyễn Văn T1 01 mô tô biển kiểm soát 27AA – 067.14, nhãn hiệu DREAMTHAILANNA, màu sơn đỏ, xe cũ đã qua sử dụng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hính sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên.

Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo Nguyễn Văn T xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản làm việc về việc mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai, bản tự khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 12 giờ 30 phút ngày 05/10/2024, tại khu vực thôn Y, xã T, huyện Đ, Nguyễn Văn T bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang vì đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,71 gam Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số Methamphetamine bị thu giữ là do T mua của một người đàn ông dân tộc T2 khoảng 40 tuổi không biết tên và địa chỉ tại khu vực gần trạm y tế xã T với số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2] Về tính chất của vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới đủ sức răn đe và cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

[3.1] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nên bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[3.2] Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[3.3] Về nhân thân: Bị cáo chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Ngày 13/01/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 19/2011/HSST, ngày 04/6/2012 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương, hiện bị cáo đã được xóa án tích đối với bản án trên.

Như vậy bị cáo đã từng đi chấp hành án phạt tù nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà còn tiếp tục phạm tội nên Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính Bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, nghề nghiệp của bị cáo là làm ruộng không có thu nhập ổn định nên không có khả năng thi hành. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo.

[5] Đề nghị của Kiểm sát viên: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với Bị cáo từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù Hội đồng xét xử thấy là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo nên cần chấp nhận.

[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

[7] Về xử lý vật chứng: Số Methamphetamine bị thu giữ là 1,71 gam đã gửi giám định toàn bộ hoàn lại 1,51 gam là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Đối với 01 mảnh nilon màu trắng dùng để gói Methamphetamine là công cụ phạm tội và là vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu DREAMTHAILANNA, số loại 50 màu sơn đỏ, biển kiểm soát 27AA – 067.14, số khung RL9DCB6UMKBG01862, số máy: RL9FM1P39FMBD01862, xe đã qua sử dụng, có chìa khóa xe. Đây xe máy của anh Nguyễn Văn T1 là con trai bị cáo, bị cáo sử dụng vào làm phương tiện phạm tội nhưng không nói cho T1 biết nên cần trả lại xe mô tô trên cho anh T1 theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106/BLTTHS.

[8] Các vấn đề khác: Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, bị cáo khai đã mua của một người đàn ông dân tộc T2 khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không có cơ sở xác minh làm rõ, Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[9] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

  1. Về tội danh: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  2. Về hình phạt: Xử phạt Bị cáo Nguyễn Văn T 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 05/10/2024).
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • Tịch thu tiêu hủy: 1,51 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại sau giám định; 01 mảnh nilon màu trắng.
    • Trả lại cho anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1994, nơi cư trú: Thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên 01 xe mô tô nhãn hiệu DREAMTHAILANNA, số loại 50 màu sơn đỏ, biển kiểm soát 27AA – 067.14, số khung RL9DCB6UMKBG01862, số máy: RL9FM1P39FMBD01862, xe đã qua sử dụng, có chìa khóa xe.
    • (Vật chứng của vụ án đã được Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/11/2024).
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có QL,NVLQ;
  • - Nhà tạm giữ CAHĐB;
  • - VKSND huyện Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - CQCSĐT CAHĐB;
  • - Hồ sơ THA hình sự;
  • - Chi cục THADS huyện Điện Biên;
  • - Toà án ND tỉnh Điện Biên;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Sở tư pháp; Lưu VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Yên

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 02 năm 06 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger