Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẠCH THÔNG

TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày: 26/11/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Đào

Ông Đinh Văn Tuyền

Thư ký phiên toà: Ông Cao Văn Thuận – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nông Văn C (tên gọi khác: Không), sinh ngày 20 tháng 11 năm 1993 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nông Văn B và bà Hoàng Thị T; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 13/11/2012 bị Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2024 đến nay, có mặt tại phiên toà.
  2. Nguyễn Đình T1 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 03 tháng 6 năm 1991 tại tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã V, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình K và bà Hoàng Thị C1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/6/2012, Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản người khác, hình thức phạt tiền; ngày 02/7/2020, Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền; ngày 28/10/2021, Công an xã V xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức cảnh cáo; ngày 25/11/2021, Công an xã V xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền; ngày 29/12/2021, Ủy ban nhân dân xã V áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn - ngày 29/3/2022 chấp hành xong; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/6/2024 đến nay, có mặt tại phiên toà.

- Người làm chứng: Anh Đồng Phúc H – Sinh năm 1992. Vắng mặt

HKTT và chỗ ở hiện nay: Phố Đ, thị trấn P, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 40 ngày 16/6/2024, tại thôn N, thị trấn P, huyện B, tổ công tác Công an huyện B bắt quả tang Nguyễn Đình T1, trú tại thôn N, xã V, huyện B về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ: 01 gói nhỏ được gói bằng giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng bên trong có chứa chất màu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu “T2”, 01 xi lanh chưa qua sử dụng niêm phong trong phong bì ký hiệu “T1”, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Coolpad, màu đen đã qua sử dụng có lắp sim số 0373162729 niêm phong trong phong bì ký hiệu "ĐT".

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đình T1 khai nhận: Bản thân sử dụng ma túy từ năm 2010 và nghiện chất ma túy. Khoảng hơn 13 giờ ngày 16/6/2024, T1 sử dụng điện thoại di động gắn sim số 0373162729 gọi vào số điện thoại 0365.116.xxx của Nông Văn C, trú tại thôn P, xã M, huyện B để hỏi mua ma túy thì được C đồng ý bán ma túy. T1 đi xe khách đến nhà C gặp và mua 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Trần Đ xe khách về đến thôn N, thị trấn P xuống xe tìm nơi sử dụng ma túy thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang, thu giữ: 01 gói ma túy, 01 xi lanh chưa qua sử dụng và 01 điện thoại di động. Ngoài ra, Nguyễn Đình T1 khai ngày 12/6/2024 T1 còn mua với C 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng và ngày 13/6/2024 Trần mua với C 02 gói ma túy với giá 700.000 đồng. Việc Trần đi mua ma túy với Cập trong 02 ngày trên đều có Đồng Phúc H, sinh năm 1992, trú tại phố Đ, thị trấn P, huyện B điều khiển xe mô tô không rõ nhãn hiệu, kiểu dáng Wave màu đen xám của mẹ là bà Nông Thị Hồng K1 chở Trần Đ, góp tiền và chứng kiến việc mua bán ma túy.

Ngày 16/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B cân xác định khối lượng chất nghi vấn là ma túy thu giữ được của Nguyễn Đình T1, xác định: Số chất màu trắng có trong phong bì ký hiệu “GĐ” có khối lượng là 0,128g (không phẩy một hai tám gam). Kết luận giám định số: 215/KL-KTHS ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất màu trắng trong phong bì ký hiệu GĐ gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,128g. Ngày 17/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đình Trần . Kết quả: Không phát hiện và tạm giữ đồ vật, tài liệu gì.

Hồi 17 giờ 20 phút ngày 16/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, địa điểm công trình phụ cận nhà Nông Văn Cập. Qua khám xét, thu giữ: Tại đầu giường bên phải phòng khách 01 gói nhỏ được gói bằng giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng bên trong có chứa chất màu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu “C”. Trên giường trong phòng ngủ phía bên phải hướng từ ngoài vào có: 01 lọ nhựa bên trong có 01 túi nilon trong suốt chứa chất màu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu “C1”; Số tiền 210.000 đồng niêm phong trong phong bì ký hiệu “C2”; 02 mảnh giấy đều có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng và 34 xi lanh nhựa đã qua sử dụng niêm phong trong hộp catton ký hiệu “C3”; 83 xi lanh nhựa và 25 lọ nước cất đều chưa qua sử dụng niêm phong trong hộp catton ký hiệu “C4”. Tại chuồng vịt phía sau nhà có 01 túi nilon trong suốt bên trong có chứa chất màu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu “C5”.

Hồi 07 giờ 40 phút ngày 18/6/2024, Nông Văn C đến đầu thú tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B. Ngày 18/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện B tiến hành cân số chất màu trắng thu giữ được tại nhà của Nông Văn C: Tổng khối lượng số chất màu trắng là 15,405g. Sau khi cân, toàn bộ số chất màu trắng trên được gói trong túi zip có khóa và niêm phong trong phong bì ký hiệu “GĐ" để gửi giám định. Tại Kết luận giám định số 219/KL- KTHS ngày 24/6/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất màu trắng trong phong bì ký hiệu GĐ gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 15,405g.

Quá trình điều tra, truy tố Nông Văn C khai nhận: Bản thân sử dụng và nghiện chất ma túy từ năm 2022, số chất màu trắng mà Tổ công tác Công an huyện B phát hiện và thu giữ khi khám xét tại nhà Cập vào ngày 16/6/2024 là ma túy, loại Heroine của C. Nguồn gốc số ma túy là khoảng 13 giờ ngày 11/6/2024, C đi xe ô tô khách từ nhà xuống bến xe khách thành phố T, tỉnh Thái Nguyên mua 01 gói ma túy với giá 8.000.000 đồng của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ, sau đó mang về nhà cất giấu để sử dụng và bán lại cho người khác. Cập khai nhận được bán 03 lần ma túy cho Nguyễn Đình T1, sinh năm 1991, trú tại thôn N, xã V, huyện B, cụ thể:

  • Lần 1: Khoảng 10 giờ ngày 12/6/2024, C đang ở nhà thì T1 gọi điện thoại hỏi mua 500.000 đồng ma túy, C đồng ý rồi lấy số ma túy mua được chia ra 01 gói nhỏ cầm theo đi bộ ra đường liên thôn gần nhà. Cập bán cho T1 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng. Khi C bán ma túy cho T1 thì có H nhìn thấy.
  • Lần 2: Khoảng 11 giờ ngày 13/6/2024, T1 gọi điện cho C hỏi mua 02 gói ma túy (01 gói 500.000 đồng và 01 gói 200.000 đồng). C đồng ý rồi lấy số ma túy mua được chia ra 02 gói nhỏ cầm theo đi bộ ra đường liên thôn gần nhà. Cập bán cho T1 02 gói ma túy với giá 700.000 đồng. Khi C bán ma túy cho T1 thì có H nhìn thấy.
  • Lần 3: Khoảng hơn 13 giờ ngày 16/6/2024, T1 gọi điện thoại hỏi mua 200.000 đồng ma túy, C đồng ý rồi lấy số ma túy mua được chia ra 01 túi nilon để trong một lọ nhựa và 02 gói nhỏ đều được gói bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng rồi cầm 01 gói đi bộ ra đường liên thôn gần nhà bán cho T1 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng.

Quá trình điều tra, Đồng Phúc H trình bày: H được góp tiền và cùng Nguyễn Đình T1, trú tại thôn N, xã V, huyện B đi mua ma túy của Nông Văn C 02 lần và đã sử dụng hết số ma túy (heroin) đã mua với C. Cụ thể: Lần 1: Khoảng 10 giờ ngày 12/6/2024, Trần rủ H góp tiền đi mua ma túy với C, H đồng ý và lấy xe mô tô của bà Nông Thị Hồng K1 (mẹ của H) trở T1 đến gần nhà C để mua ma túy. Đến nơi Trần gọi điện thoại cho C hỏi mua ma túy, khoảng 05 phút sau thì C mang ma túy ra bán cho T1, H đứng phía sau và nhìn thấy việc C bán ma túy cho T1. Sau khi mua được ma túy, T1 và H chia nhau, sau đó H mang ma túy về nhà H sử dụng hết. Lần 2: Khoảng 11 giờ ngày 13/6/2024, Trần rủ H góp tiền đi mua ma túy với C, H đồng ý và lấy xe mô tô của bà Nông Thị Hồng K1 (mẹ của H) trở T1 đến gần nhà C để mua ma túy. Đến nơi Trần gọi điện thoại cho C hỏi mua ma túy, khoảng 03 phút sau thì C mang ma túy ra bán cho T1, H đứng phía sau và nhìn thấy việc C bán ma túy cho T1. Sau khi mua được ma túy, T1 và H chia nhau, sau đó H mang ma túy về nhà H sử dụng hết.

Cáo trạng số 33/CT-VKS-BT ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn truy tố Nông Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố Nguyễn Đình T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 251 Bộ luật hình sự có nội dung:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 7 năm.

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a)

;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

..........;

i) Heroine, có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

..........

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, ...hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Điều 249 Bộ luật hình sự có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a);

c) Heroine, có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nông Văn C thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Bạch Thông đã truy tố. Bị cáo xin HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Bị cáo Nguyễn Đình T1 thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Bạch Thông đã truy tố. Bị cáo xin HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nông Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, Nguyễn Đình T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nông Văn C từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 18/6/2024). Không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí cho bị cáo.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Đình T1 từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 16/6/2024). Không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu “T139” bên trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu GĐ còn lại 14,968g (một bốn phẩy chín sáu tám gam) cùng phong bì, bao gói cũ hoàn trả sau giám định; 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu “T135” bên trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu GĐ còn lại 0,102g (không phẩy một không hai gam) cùng phong bì, bao gói cũ hoàn trả sau giám định; 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu “VC” bên trong có 01 (một) mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng và 02 (hai) túi nilon màu trắng và 01 (một) lọ nhựa cùng các phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “C”, “C1” và “C5”; 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu “VC” bên trong có 01 (một) mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng cùng phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “T2”; 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu “T1” bên trong có 01 (một) chiếc xi lanh nhựa chưa qua sử dụng; 01 (một) hộp catton được niêm phong kí hiệu “C3” bên trong có 02 (hai) mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng và 34 (ba mươi tư) chiếc xi lanh nhựa đã qua sử dụng; 01 (một) hộp catton được niêm phong kí hiệu “C4” bên trong có 83 (tám mươi ba) chiếc xi lanh nhựa chưa qua sử dụng và 25 (hai mươi năm) lọ nước cất chưa qua sử dụng; 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu “ĐTT”; 01 phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “ĐT” và 01 (một) phong bì kí hiệu là: “TC” là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Coolpad, màu đen, kiểu dáng bàn phím cứng, cũ, đã qua sử dụng, bị cáo Nguyễn Đình T1 sử dụng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước.
  • Đối với 01 sim điện thoại có số thuê bao 0373162729, bị cáo đã sử dụng để liên lạc mua ma túy, do không còn giá trị sử dụng, bị cáo không nhận lại và đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền: 210.000đ (hai trăm mười nghìn đồng) do bị cáo Nông Văn C bán ma túy mà có.
  • Buộc bị cáo Nông Văn C nộp lại số tiền 1.190.000đ (một triệu một trăm chín mươi nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước – tiền Nông Văn C bán ma túy mà có, nhưng đã tiêu xài cá nhân hết.

[6]. Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Nông Văn C vào ngày 11/6/2024, tại bến xe khách thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; do bị cáo không biết họ tên, địa chỉ người này, và cũng không quen biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xác minh làm rõ được, nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Đình T1 và Đồng Phúc H vào các ngày 12/6/2024 và ngày 13/6/2024 Công an huyện B đã chuyển toàn bộ tài liệu đến Công an xã V và Công an thị trấn P, huyện B, tỉnh Bắc Kạn để xem xét giải quyết theo quy định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập xem xét giải quyết.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen của Nông Văn C sử dụng vào việc liên lạc để bán ma túy, bị cáo C khai đã làm mất khi C bỏ chạy, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã truy tìm nhưng không thu giữ được. Do đó, HĐXX không xem xét giải quyết.

Đối với chiếc điện thoại di động, xe mô tô Đồng Phúc H sử dụng để làm phương tiện thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; do H đã làm mất điện thoại, xe mô tô là của bà Nông Thị Hồng K1 (mẹ của H), bà K1 không biết H sử dụng xe để chở Nguyễn Đình T1 đi mua ma túy, bà K1 đã bán xe cho đồng nát, Cơ quan CSĐT không thu giữ được để xử lý. Mặt khác, Cơ quan CSĐT Công an huyện B cũng đã chuyển toàn bộ tài liệu đến Công an thị trấn P để xem xét giải quyết theo quy định nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét giải quyết.

[7]. Về án phí:

Bị cáo Nông Văn C và bị cáo Nguyễn Đình T1 đều là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở khu vực đặc biệt khó khăn; gia đình bị cáo C còn thuộc hộ cận nghèo. Bị cáo C và bị cáo T1 có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho các bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố:

  • Bị cáo Nông Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Bị cáo Nguyễn Đình T1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt:

2.1. Hình phạt chính:

  • Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nông Văn C 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 18/6/2024).
  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T1 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 16/6/2024).

Tiếp tục tạm giam bị cáo Nông Văn C và bị cáo Nguyễn Đình T1 để đảm bảo thi hành án (thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án).

2.2. Hình phạt bổ sung:

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nông Văn C và bị cáo Nguyễn Đình Trần .

3. Về xử lí vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu “T139” bên trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu GĐ còn lại 14,968g (một bốn phẩy chín sáu tám gam) cùng phong bì, bao gói cũ hoàn trả sau giám định; 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu “T135” bên trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu GĐ còn lại 0,102g (không phẩy một không hai gam) cùng phong bì, bao gói cũ hoàn trả sau giám định; 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu “VC” bên trong có 01 (một) mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng và 02 (hai) túi nilon màu trắng và 01 (một) lọ nhựa cùng các phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “C”, “C1” và “C5”; 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu “VC” bên trong có 01 (một) mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng cùng phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “T2”; 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu “T1” bên trong có 01 (một) chiếc xi lanh nhựa chưa qua sử dụng; 01 (một) hộp catton được niêm phong kí hiệu “C3” bên trong có 02 (hai) mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng và 34 (ba mươi tư) chiếc xi lanh nhựa đã qua sử dụng; 01 (một) hộp catton được niêm phong kí hiệu “C4” bên trong có 83 (tám mươi ba) chiếc xi lanh nhựa chưa qua sử dụng và 25 (hai mươi năm) lọ nước cất chưa qua sử dụng; 01 (một) phong bì niêm phong kí hiệu “ĐTT”; 01 (một) phong bì kí hiệu là: “TC” và 01 (một) sim của nhà mạng Viettel có số thuê bao 0373162729 cùng phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “ĐT”.
  • Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Coolpad, màu đen, kiểu dáng bàn phím cứng, cũ, đã qua sử dụng.
  • Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 210.000đ (hai trăm mười nghìn đồng) – Là tiền bị cáo Nông Văn C bán trái phép chất ma túy.
  • Buộc bị cáo Nông Văn C nộp lại số tiền bán ma túy trái phép là 1.190.000đ (một triệu một trăm chín mươi nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước. (Số lượng, hiện trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/10/2024 giữa Công an huyện B với Chi cục thi hành án dân sự huyện Bạch Thông).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nông Văn C và bị cáo Nguyễn Đình Trần .

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Kạn;
  • - VKSND tỉnh Bắc Kạn;
  • - VKSND huyện Bạch Thông;
  • - Công an huyện Bạch Thông;
  • - THADS huyện Bạch Thông;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Bị cáo; NLC;
  • - Lưu hs, vp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Hương Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nông Văn Cập bị xử phạt 08 (tám) năm 06 tháng về tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; Nguyễn Đình Trần bị xử phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger