|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 37/2024/HS-ST Ngày 22-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Đình Phúc và ông Vương Quốc Quỹ.
Thư ký Tòa án: Ông Vũ Cao Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Sỹ Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Trần Anh T, sinh năm 1996 tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Nơi cư trú: Thôn C, thị trấn T, huyện P, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc D và bà Nguyễn Thị B; có vợ là Trần Thị T1; bị cáo chưa có con; tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 93/2022/HS-ST ngày 20/12/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin tài khoản Ngân hàng”, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/5/2024 đến ngày 16/5/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện T, tỉnh Hải Dương đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Phạm Ngọc D1, sinh năm 1995 tại Hưng Yên. Nơi cư trú: Thôn C, thị trấn T, huyện P, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn A (đã chết) và bà Đỗ Thị L; bị cáo chưa có vợ, con, là con duy nhất trong gia đình; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/9/2024 đến ngày 18/9/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện T, tỉnh Hải Dương đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Hoàng Văn N, sinh năm 1990 tại Hưng Yên. Nơi cư trú: Thôn C, thị trấn T, huyện P, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Nguyên cán bộ Công an xã Đ, huyện P, tỉnh Hưng Yên (xuất ngũ ngày 09/5/2024 theo Quyết định số 1733/QĐ-CAT-PX01 ngày 09/5/2024 của Giám đốc Công an tỉnh H); trình độ văn hóa (học vấn): lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; là Đảng viên Đ (đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 88-QĐ/UBKTHU ngày 13/6/2024 của Ủy ban kiểm tra H6, tỉnh Hưng Yên); con ông Hoàng Văn T2 và bà Phạm Thị H; có vợ là Doãn Thị T3 và 02 con lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/5/2024 đến ngày 15/5/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện T, tỉnh Hải Dương đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Những người tham gia tố tụng khác:
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Trần Văn S, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố H, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).
- + Chị Nguyễn Thị S1, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
- + Anh Hoàng Văn T2, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn C, thị trấn T, huyện P, tỉnh Hưng Yên (có mặt).
- + Anh Lê Văn Q, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn C, thị trấn T, huyện P, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).
- + Chị Phan Khánh V, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn T, thị trấn T, huyện P, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).
- + Chị Nhữ Thị S2, sinh năm 1984; địa chỉ: Đ, thôn V, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
- + Bà Nguyễn Thị V1, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện P, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
- Người làm chứng:
- + Anh Trần Văn H1.
- + Anh Ngô Văn T4.
- + Chị Hà Thị T5.
- + Chị Lò Thị T6.
- + Chị Thiều Thị Thu H2.
- + Chị Lò Thị H3.
- + Chị Hoàng Thị S3.
- Người chứng kiến: Ông Phạm Văn T7.
(Toàn bộ người làm chứng và người chứng kiến vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 07/5/2024; tại khu vực rìa đường quốc lộ 38B thuộc địa phận thôn B, xã C, huyện T. Trong quá trình làm nhiệm vụ, lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an huyện T phối hợp với công an xã Cao Thắng phát hiện bắt quả tang Trần Anh T có hành vi cất giấu 02 túi nilon có kích thước khoảng (2,0x2,0)cm, 01 túi nilon có kích thước khoảng (3,0x3,0)cm; bên trong mỗi túi chứa 01 viên dạng nén màu xám, không rõ hình dạng có kích thước khoảng (1,0x1,0x0,3)cm và 01 túi nilon có kích thước khoảng (2,0x2,0)cm bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng; các túi này đều đựng trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng T tự khai là ma túy cất giấu để chờ bán cho đối tượng tên H4 hỏi mua trước đó. Cơ quan điều tra đã thu giữ của đối tượng T các vật chứng trên đồng thời thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax và 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen không gắn biển số trước sự chứng kiến của anh Trần Văn H1. Tại cơ quan điều tra, T khai nhận 03 viên ma túy dạng nén màu xám T mua của Phạm Ngọc D1 vào khoảng hơn 19 giờ ngày 07/5/2024; túi nilon chứa chất tinh thể rắn màu trắng T mua của Hoàng Văn N vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 05/5/2024.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở trọ của T tại thôn C, thị trấn T, huyện P tỉnh Hưng Yên. Cơ quan điều tra đã thu giữ tại khu vực đệm ngủ tại phòng ngủ của T 01 túi xách giả da màu nâu kích thước khoảng (20x26)cm, bên trong túi giả da có 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (08x13)cm bên trong chứa 21 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (03x03)cm dạng túi nẹp miệng bên trong các túi này không có chứa gì, 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (03x03)cm dạng túi nẹp miệng bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (03x03)cm dạng túi nẹp miệng bên trong chứa 01 viên dạng nén màu xám kích thước khoảng (0,8x0,5x0,3)cm. Tại cơ quan điều tra, T khai nhận túi nilon chứa chất tinh thể rắn màu trắng T mua của Hoàng Văn N vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 05/5/2024, còn 01 viên dạng nén màu xám không nhớ mua của ai, mua từ bao giờ nhưng cất giấu tại phòng ngủ nhằm mục đích sẽ bán khi có người hỏi mua.
Quá trình điều tra các đối tượng Trần Anh T, Phạm Ngọc D1 và Hoàng Văn N khai nhận:
Anh Lê Văn Q ở thôn C, thị trấn T, huyện P, tỉnh Hưng Yên cùng Hoàng Văn N làm chung dịch vụ cung cấp nhân viên nữ để phục vụ rót bia, bấm bài cho các quán Karaoke. Ngày 01/01/2024, anh Q thuê ngôi nhà cấp 4 tại thôn C, thị trấn T của chị Bùi Thị H5 người cùng thôn mục đích để cho các nhân viên nữ ở, đồng thời thuê Trần Anh T chở các nhân viên nữ đến các quán hát phục vụ và cho T ở trọ tại đây.
Khoảng đầu tháng 5 năm 2024, Hoàng Văn N mua 02 chỉ Ketamine với tổng số tiền 2.000.000 đồng tại khu vực Vinhome O ở huyện V, tỉnh Hưng Yên của một nam giới không biết tên, tuổi, địa chỉ mục đích để sử dụng. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 05/5/2024, N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH, gắn biển kiểm soát 89B1- 035.67 đến khu vực nhà trọ kiểm tra hoạt động của các nhân viên nữ thì gặp T đứng ở khu vực trước cửa nhà trọ. T hỏi “Có chỉ Ke nào không?”, hiểu ý T muốn mua ma tuý nên N nói “Còn 02 chỉ”. T nói “Anh để lại cho em”, N nói giá tổng là 2.600.000 đồng, T nói trả sau, N đồng ý. N lấy từ túi quần phía trước bên trái 01 túi nilon màu trắng bên trong có 02 túi nilon màu trắng chứa chất rắn tinh thể màu trắng đưa cho T. T nhận ma tuý rồi để vào túi quần phía trước bên trái đang mặc trên người. Mua được ma tuý, T lấy 01 chỉ ra sử dụng. Chỉ còn lại, T cho một phần vào túi nilon màu trắng, rồi cất 02 túi ma tuý trên vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long được để ở trong túi giả da dưới đệm đầu giường phòng trọ. Khoảng 18 giờ ngày 07/5/2024, khi T đang ở phòng trọ thì một nam thanh niên giới thiệu tên là H4 dùng số thuê bao 0906.032.207 gọi đến số thuê bao 0374.222.202 của T hỏi mua 01 chỉ Ke và 03 viên kẹo, T nói 1.800.000 đồng/1 chỉ Ke, 350.000 đồng/01 viên kẹo, tổng 2.850.000 đồng, H4 đồng ý mua và hẹn gặp T tại khu vực cầu T thuộc địa phận thôn B, xã C, huyện T để mua bán ma túy. Khoảng 19 giờ 25 phút cùng ngày, đối tượng H4 gọi điện thoại bảo T mang ma túy ra vị trí đã hẹn trước đó. T yêu cầu H4 phải chuyển trước 500.000 đồng vào số tài khoản 235199699999 của T để đặt cọc, H4 đồng ý. Đối tượng H4 đi đến quán sửa chữa điện thoại của anh Ngô Văn T4 ở đường N, thị trấn T, huyện T và đưa 500.000 đồng rồi nhờ anh T4 chuyển đến số tài khoản 235199699999 của T, anh T4 đồng ý. Sau khi nhận tiền, T bỏ 01 túi ma tuý từ vỏ bao thuốc Thăng Long cho vào túi nilon khác. Túi còn lại trong vỏ bao thuốc lá Thăng L1, T cất vào túi quần rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter đến quán C ở cùng thôn do Phạm Ngọc D1 là chủ quán. Thấy D1 nằm trên ghế giáp tường cạnh lán của quầy pha chế, T nói “Anh Dũng đưa cho em 3 cúc”, hiểu T muốn mua 03 viên ma túy dạng kẹo, D1 đồng ý rồi đi vào trong quầy pha chế, lấy trên mặt bàn 01 vỏ lọ kẹo cao su màu xanh kích thước khoảng (03x 07)cm, mở nắp lấy 03 viên ma túy dạng kẹo được đựng trong 03 túi nilon màu trắng đưa cho T. D1 nói 320.000 đồng/viên thì T nói “Em trả tiền sau”, D1 đồng ý. T cho 03 túi ma tuý trên vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long cất vào túi quần bên trái rồi điều khiển xe mô tô đến khu vực cầu T thuộc thôn B, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương. Đến 19 giờ 50 phút cùng ngày, trong khi T đang đứng ở ven đường quốc lộ 38B để đợi bán ma tuý cho đối tượng H4 thì bị lực lượng cảnh sát điều tra Công an huyện T phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Tại Kết luận giám định số 245/KL-KTHS ngày 10/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận:
- - Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon màu trắng, được niêm phong trong phong bì thứ nhất mặt trước ghi "Vật chứng thu giữ của Trần Anh T, sinh ngày 23/5/1996 ở thôn C, thị trấn T, huyện P, tỉnh Hưng Yên ngày 07/5/2024", gửi đến giám định khối lượng là: 0,622g là ma túy, loại Ketamine. Cơ quan giám định đã hoàn trả 0,538g ma túy, loại Ketamine, 01 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu T1.
- - 03 viên nén màu xám trong 03 túi nilon màu trắng, được niêm phong trong phong bì thứ nhất mặt trước ghi "Vật chứng thu giữ của Trần Anh T, sinh ngày 23/5/1996 ở thôn C, thị trấn T, huyện P, tỉnh Hưng Yên ngày 07/5/2024", gửi đến giám định tổng khối lượng là: 1,794g là ma túy, loại MDMA. Cơ quan giám định đã hoàn trả 1,036g ma túy, loại MDMA và 03 vỏ túi nilon màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu T1.
- - Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon màu trắng, được niêm phong trong phong bì thứ hai mặt trước ghi "Vật chứng thu giữ tại khu vực giường (đệm) ngủ của Trần Anh T, SN: 1996 ở thôn C, TT . T, huyện P, tỉnh Hưng Yên”, gửi đến giám định khối lượng là: 0,108g là ma túy, loại Ketamine. Cơ quan giám định đã hoàn trả 0,077g ma túy, loại Ketamine, 01 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu T2.
- - Viên nén màu xám trong túi nilon màu trắng, được niêm phong trong phong bì thứ hai mặt trước ghi "Vật chứng thu giữ tại khu vực giường (đệm) ngủ của Trần Anh T, SN: 1996 ở thôn C, TT . T, huyện P, tỉnh Hưng Yên”, gửi đến giám định khối lượng là: 0,169g là ma túy, loại MDMA. Cơ quan giám định đã hoàn trả 0,119g ma túy, loại MDMA và 01 vỏ túi nilon màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu T2.
Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKS-TM ngày 18/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Trần Anh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự; các bị cáo Phạm Ngọc D1 và Hoàng Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Hoàng Văn N thừa nhận sau khi mua 02 túi ma túy loại Ketamine vào thời gian đầu tháng 5/2024 với giá 2.000.000 đồng của người đàn ông không quen biết với mục đích để sử dụng, nhưng khi Trần Anh T hỏi mua vào chiều ngày 05/5/2024 N đã đồng ý và bán cho T với giá 2.600.000 đồng nhằm mục đích kiếm lời nhưng cho T nợ chưa thanh toán tiền.
Bị cáo Phạm Ngọc D1 thừa nhận sau khi mua 03 viên ma túy loại MDMA của người đàn ông không quen biết với giá 960.000 đồng với mục đích để sử dụng, nhưng khi Trần Anh T hỏi mua vào chiều tối ngày 07/5/2024, do nể nang nên D1 đã đồng ý và bán cho T bằng giá đã mua nhưng cho T nợ chưa thanh toán.
Bị cáo Trần Anh T thừa nhận sau khi mua 02 túi ma túy loại Ketamine của N đã sử dụng hết 01 túi, túi còn lại T chia làm hai túi nhỏ cất giấu cùng 01 viên ma túy loại MDMA đã mua từ trước tại đệm giường ngủ phòng trọ với mục đích để sử dụng và khi có người hỏi mua thì bán kiếm lời. Khi đối tượng tên H4 hỏi mua ma túy qua điện thoại, do đã có sẵn ma túy loại Ketamine mua của N trước đó nên T đã đồng ý bán, đồng thời gặp và mua thêm của D1 03 viên ma túy loại MDMA để đáp ứng yêu cầu của đối tượng H4. T đã yêu cầu H4 phải chuyển khoản trước số tiền 500.000 đồng thì mới giao ma túy và dự định bán cho đối tượng H4 01 túi ma túy loại Ketamine với giá 1.800.000 đồng và 03 viên ma túy loại MDMA với giá 350.000 đồng/01 viên.
Tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày quan điểm vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Anh T, Phạm Ngọc D1 và Hoàng Văn N đều phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy.
Về hình phạt:
Áp dụng điểm b Khoản 2 và Khoản 5 Điều 251; điểm h (tái phạm) Khoản 1 Điều 52; điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 38; Khoản 2, 3 Điều 35; điểm a, b Khoản 1 Điều 55; Khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Anh T: Xử phạt bị cáo Trần Anh T từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại chưa chấp hành tại bản án hình sự sơ thẩm số 93/2022/HS-ST ngày 20/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên được quy đổi thành 29 ngày tù để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là từ 07 năm 00 tháng 29 ngày đến 07 năm 06 tháng 29 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 07/5/2024. Phạt bổ sung bị cáo từ 07 đến 10 triệu đồng sung ngân sách Nhà nước.
Áp dụng Khoản 1 và Khoản 5 Điều 251; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 38; Khoản 2, 3 Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Phạm Ngọc D1: Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc D1 từ 33 đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 12/9/2024. Phạt bổ sung bị cáo từ 05 đến 07 triệu đồng sung ngân sách Nhà nước.
Áp dụng Khoản 1 và Khoản 5 Điều 251; điểm s, v Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 38; Khoản 2, 3 Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Hoàng Văn N: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N từ 24 đến 27 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 09/5/2024. Phạt bổ sung bị cáo từ 05 đến 07 triệu đồng sung ngân sách Nhà nước.
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b, c Khoản 2, điểm b Khoản 3 và Khoản 4 Điều 106, Điều 129 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ Khoản 2 Điều 53 Luật Viễn thông:
- - Tịch thu cho tiêu hủy: 0,538g ma túy loại Ketamine, 1,036g ma túy loại MDMA, 04 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định và 01 vỏ phong bì ký hiệu T1 số 245/KL-KTHS.
- - Tịch thu cho tiêu hủy: 0,077g ma túy loại Ketamine, 0,119g ma túy loại MDMA, 02 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định và 01 vỏ phong bì ký hiệu T2 số 245/KL-KTHS.
- - Tịch thu cho tiêu hủy 22 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, 01 túi xách giả da màu nâu, 01 quần bò dài màu đen, 01 áo ngắn tay màu trắng không cổ và 01 áo ngắn tay có cổ, màu xám.
- - Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng trong tài khoản 235199699999 của Trần Anh T hiện đang bị phong tỏa tại Ngân hàng TMCP Q1- Chi nhánh H7. Tiếp tục duy trì Lệnh phong tỏa tài khoản số 94/LPT-ĐCSHS- KTMT ngày 10/6/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Hải Dương để đảm bảo thi hành án.
- - Tịch thu cho phát mại sung ngân sách Nhà nước giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh; số IMEI: 353730394155837 (mật khẩu mở khóa màn hình 000000); tịch thu cho tiêu hủy 01 thẻ SIM (vật lý) gắn trong điện thoại; yêu cầu Tổng công ty V2 tiến hành thu hồi số thuê bao 0374.222.202, tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong điện thoại.
- - Tịch thu cho tiêu hủy 01 biển số xe mô tô số 89B1-035.67.
- - Trả lại người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn T2, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn C, thị trấn T, huyện P, tỉnh Hưng Yên 01 xe máy nhãn hiệu Honda, SH màu đỏ, số máy KF25E0039450, số khung RLHKF2508GY039877.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với số tiền hiện có (nếu có) trong tài khoản số thuê bao di động 0906.032.207; yêu cầu Tổng công ty V3 thu hồi số thuê bao 0906.032.207.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự.
Các bị cáo nhất trí với luận tội, không tham gia tranh luận, đều thể hiện lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Khi phát hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của Phạm Ngọc D1 và Hoàng Văn N thông qua việc phát hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của Trần Anh T. Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T xác định hành vi của Phạm Ngọc D1 và Hoàng Văn N thực hiện tại thôn C, thị trấn T, huyện P, tỉnh Hưng Yên thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện P nên đã có văn bản trao đổi nguồn tin về tội phạm để bàn giao hồ sơ và vật chứng có liên quan. Tuy nhiên, cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện P, tỉnh Hưng Yên đã có văn bản phúc đáp đồng ý để cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T tiến hành điều tra vụ án là phù hợp với Khoản 4 Điều 163 Bộ luật tố tụng hình sự. Như vậy, trong quá trình điều tra, truy tố; điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
[2.1] Sự thừa nhận của bị cáo Trần Anh T về hành vi mua trái phép chất ma túy của bị cáo Hoàng Anh N1 vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 05/5/2024 tại khu vực nhà trọ nơi Trần Anh T cư trú, ở tại thôn C, thị trấn T, huyện P, tỉnh Hưng Yên để cất giấu với mục đích vừa sử dụng, vừa bán lại cho đối tượng tên H4 kiếm lời cũng như sự thừa nhận của bị cáo Trần Anh T về hành vi mua trái phép chất ma túy của bị cáo Phạm Ngọc D1 vào khoảng 19 giờ 25 phút ngày 07/5/2024 tại quán C của D1, ở thôn C, thị trấn T, huyện P, tỉnh Hưng Yên với mục đích bán lại cho đối tượng tên H4 phù hợp với sự thừa nhận của các bị cáo Hoàng Văn N và Phạm Văn D2 về hành vi bán trái phép ma túy cho Trần Anh T vào khoảng thời gian và địa điểm nêu trên. Sự thừa nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, biên bản giải trình và tra cứu lịch sử liên lạc điện thoại và tài khoản ngân hàng, biên bản và bản ảnh khi tiến hành thực nghiệm điều tra và xác định hiện trường, biên bản nhận dạng qua ảnh và sự kiện diễn ra theo lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và vật chứng đã thu giữ.
[2.2] Các bị cáo đều là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy được các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý và sử dụng của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội.
[2.3] Bị cáo Trần Anh T mua trái phép chất ma túy của Hoàng Văn N và Phạm Ngọc D1 tại hai thời điểm khác nhau, ngoài ra T thừa nhận còn mua của người không quen biết một lần 01 viên MDMA nhưng không nhớ thời gian, địa điểm. Toàn bộ số ma túy này, T mua đều nhằm mục đích vừa sử dụng, vừa bán cho người khác kiếm lời; đối với 02 túi ma túy mua của N - T đã sử dụng hết 01 túi, còn một túi chia làm 02 túi nhỏ. Vì vậy, bị cáo Trần Anh T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng ma túy bị thu giữ đối với Ketamine là 0,73gam và MDMA là 1,963 gam; đối với bị cáo Hoàng Văn N phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng ma túy Ketamine là 0,73gam và Phạm Ngọc D1 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng ma túy MDMA là 1,794 gam.
[2.4] Bị cáo Trần Anh T mua bán trái phép hai chất ma túy không được quy định trong cùng một điểm thuộc các khoản của Điều 251 Bộ luật hình sự. Căn cứ Khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì 0,73 gam Ketamine tính tỉ lệ % so với mức tối thiểu chất ma túy khác ở thể rắn quy định tại điểm n Khoản 2 Điều 251 là 20 gam thì tỉ lệ % về khối lượng của Ketamine là 3,65% (0,73g so với 20g), đồng thời 1,963 gam MDMA tính tỉ lệ % so với mức tối thiểu MDMA quy định tại điểm i Khoản 2 Điều 251 là 05 gam thì tỉ lệ % về khối lượng của MDMA là 39,26% (1,963g so với 05g). Như vậy, tổng tỉ lệ % của các chất ma túy là 3,65% +39,26%=42,91% so với mức tối thiểu đối với các chất ma túy tương ứng quy định tại Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là dưới 100% nên tổng khối lượng Ketamine và MDMA trong trường hợp này thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo Trần Anh T mua trái phép chất ma túy của Hoàng Văn N và Phạm Ngọc D1 tại hai thời điểm khác nhau và đều nhằm mục đích bán kiếm lời, đồng thời các lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên được xác định là phạm tội 02 lần trở lên. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện truy tố bị cáo Trần Anh T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo tình tiết định khung quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự là có căn cứ. Đối với bị cáo Hoàng Văn N mua bán 0,73 gam Ketamine, bị cáo Phạm Ngọc D1 mua bán 1,794 gam MDMA là đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố.
[2.5] Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi cấu thành tội độc lập nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm độc lập về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của mình.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, toàn bộ các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Hoàng Văn N là người có thành tích xuất sắc trong thời gian học tập, công tác được tặng nhiều giấy khen, được nhiều lần công nhận danh hiệu chiến sĩ tiên tiến và đặc biệt năm 2020 được Chủ tịch nước C1 tặng Huy chương chiến sĩ vẻ vang nên áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm v Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đối với các bị cáo Hoàng Văn N và Phạm Ngọc D1 sau khi thực hiện hành vi phạm tội và bị phát hiện, đã ra đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Hoàng Văn N và Phạm Ngọc D1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đối với bị cáo Trần Anh T là người đã bị kết án, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[5] Khi xem xét quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy:
Các bị cáo đều phạm tội về ma túy nên cần buộc tất cả các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện thì mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa.
Đối với bị cáo Trần Anh T là người bị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin tài khoản Ngân hàng”, tại bản án hình sự sơ thẩm số 93/2022/HS-ST ngày 20/12/2022. Theo quyết định của bản án này thì thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo kể từ ngày cơ quan tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo (UBND thị trấn T) nhận được quyết định thi hành án và bản án, tài liệu có trong hồ sơ thể hiện UBND thị trấn T được quyết định thi hành án và bản án ngày 14/02/2023. Tuy nhiên, theo điểm b Khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch số 01/2023/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 18/01/2023 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/3/2023) của Bộ C2-Bộ Q2-Tòa án nhân dân tối cao-Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định việc phối hợp trong thực hiện một số quy định của Luật thi hành án hình sự tại cộng đồng thì thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án. Đây là quy định có lợi cho bị cáo nên cần áp dụng cho bị cáo được hưởng để tính thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ cho bị cáo là ngày Cơ quan thi hành án hình sự công an huyện P nhận được quyết định thi hành án là ngày 04/02/2023. Như vậy, từ ngày 04/02/2023 đến hết ngày 06/5/2024 (trong vụ án này, bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/5/2024) bị cáo đã chấp hành được 01 năm 03 tháng 02 ngày cải tạo không giam giữ, còn lại 02 tháng 28 ngày (88 ngày) cải tạo không giam giữ chưa chấp hành chuyển đổi thành hình phạt tù (88 ngày/3=29 ngày tù) để tổng hợp hình phạt chung đối với bị cáo theo quy định tại điểm a, b Khoản 1 Điều 55 và Khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội về ma túy, bị cáo N là người làm việc trong cơ quan pháp luật nhưng không chấp hành quy định của pháp luật. Do vậy, cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo để tăng cường tính giáo dục cũng như bổ trợ cho hình phạt chính mới phù hợp với quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 35 và Khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
[7] Về biện pháp tư pháp:
- - Đối với 0,538g ma túy loại Ketamine, 1,036g ma túy loại MDMA, 04 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định do cơ quan giám định hoàn trả. Xét thấy các chất ma túy là chất nhà nước cấm lưu hành; các vỏ túi nilon là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cũng như phong bì không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Đối với 0,077g ma túy loại Ketamine, 0,119g ma túy loại MDMA, 02 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định do cơ quan giám định hoàn trả. Xét thấy các chất ma túy là chất nhà nước cấm lưu hành; các vỏ túi nilon là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cũng như phong bì không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Đối với 02 phong bì niêm phong mẫu vật do cơ quan giám định hoàn trả ký hiệu T1 và T2 đều số 245/KL-KTHS và 01 phong bì niêm phong điện thoại. Xét thấy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Đối với 22 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, 01 túi xách giả da là công cụ bị cáo T sử dụng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Đối với 01 quần bò dài màu đen, 01 áo ngắn tay màu trắng không có cổ thu giữ của bị cáo T và 01 áo ngắn tay có cổ, màu xám thu giữ của bị cáo N. Xét thấy các tài sản này không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng các bị cáo T và N không đề nghị lấy lại mà đề nghị cho tiêu hủy nên tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Đối với số tiền 500.000 đồng trong tài khoản 235199699999 của bị cáo T hiện đang bị phong tỏa tại Ngân hàng TMCP Q1-Chi nhánh H7 được xác định là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đồng thời, tiếp tục duy trì Lệnh phong tỏa tài khoản số 94/LPT-ĐCSHS-KTMT ngày 10/6/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Hải Dương để đảm bảo thi hành án theo quy định tại Điều 129 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh; số IMEI: 353730394155837 (mật khẩu mở khóa màn hình 000000) là phương tiện bị cáo T dùng vào việc phạm tội nên tịch thu cho phát mại sung ngân sách Nhà nước giá trị chiếc điện thoại này theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đối với 01 thẻ SIM (vật lý) gắn trong điện thoại là công cụ bị cáo T dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 47 và điểm c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Do số thuê bao 0374.222.202 bị cáo T sử dụng là thuê bao trả tiền sau nên không có tiền trong tài khoản thuê bao nên không tịch thu nộp ngân sách nhà nước nhưng yêu cầu Tổng công ty V2 tiến hành thu hồi số thuê bao 0374.222.202 này là phù hợp với quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 53 Luật Viễn thông.
- - Đối với 01 biển số xe mô tô số 89B1-035.67 được xác định là biển số gắn theo xe mô tô của ông Trần Văn S bị rơi. Tuy nhiên, ông S đã khai báo và được cấp lại biển số mới đồng thời không có nhu cầu lấy lại chiếc biển số này và biển số này không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại tại điểm c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, SH màu đỏ, số máy KF25E0039450, số khung RLHKF2508GY039877 chưa tiến hành làm việc được với chủ sở hữu theo pháp luật, chiếc xe này không có trong tàng thư vật chứng của vụ án nào, thời điểm hiện tại xác định được ông Hoàng Văn T2 là người quản lý hợp pháp và chiếc xe không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo N. Vì vậy, cần trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn T2 chiếc xe này là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trường hợp sau này giữa chủ đứng tên sở hữu chiếc xe là chị Nguyễn Thị S1 và ông Hoàng Văn T2 nếu có tranh chấp thì giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự là phù hợp với quy định tại Khoản 4 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Đối với số thuê bao 0906.032.207 đối tượng tên H4 sử dụng liên lạc với bị cáo T để mua ma túy nhưng không thu giữ được SIM và điện thoại. Tuy nhiên cần tịch thu số tiền (nếu có) trong tài khoản của số thuê bao này sung ngân sách nhà nước. Đồng thời yêu cầu doanh nghiệp V4 là đơn vị đang cung cấp dịch vụ gắn với số thuê bao thu hồi số thuê bao này theo quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 53 Luật Viễn thông.
[8] Về án phí: Các bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[9] Về các vấn đề khác:
Người bán 01 viên ma túy cho bị cáo T, 03 viên ma túy cho bị cáo D1, 02 túi ma túy cho bị cáo N nhưng không xác định được những người này nên không có căn cứ xử lý.
Đối tượng tên H4 là người liên hệ mua ma túy của bị cáo T nhưng không làm rõ được đối tượng này nên không có căn cứ xử lý.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha - Exciter màu đen không gắn biển số, bị cáo T sử dụng làm phương tiện đi bán ma túy. Quá trình điều tra về nguồn gốc chiếc xe, xác định có dấu hiệu tội phạm nên cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T đã chuyển nguồn tin cùng chiếc xe đến cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện P, tỉnh Hưng Yên để giải quyết theo thẩm quyền. Vì vậy, không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Đối với 01 vỏ hộp kẹo cao su bị cáo D1 sử dụng chứa ma túy nhưng không thu giữ được nên không đặt ra giải quyết.
Anh Ngô Văn T4 sử dụng tài khoản của mình chuyển giúp cho đối tượng H4 số tiền 500.000 đồng tới tài khoản của bị cáo T nhưng anh T4 không biết việc chuyển tiền của đối tượng H4 để mua ma túy. Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm của anh T4 là phù hợp.
Chị Nhữ Thị S2 là người đăng ký đứng tên sử dụng thuê bao số 0906.032.207 nhưng trên thực tế chị S2 không sử dụng số thuê bao này và không biết đối tượng tên H4 là người sử dụng nên không có căn cứ xem xét trách nhiệm của chị S2 là phù hợp.
Anh Lê Văn Q và chị Phan Khánh V là những người quản lý hợp pháp nhà đất nhưng không biết việc T cùng N cũng như T cùng D1 giao dịch mua bán ma túy nên không có căn cứ xử lý.
Đối với các đĩa DVD ghi âm buổi hỏi cung đối với các bị cáo và các đĩa DVD lưu trữ hình ảnh camera được xác định là các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên tiếp tục quản lý tại hồ sơ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
Điểm b Khoản 2 và Khoản 5 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h (tái phạm) Khoản 1 Điều 52; Khoản 1 Điều 38; Điểm a, b Khoản 1 Điều 55; Khoản 2 Điều 56; Khoản 2 và Khoản 3 Điều 35 của Bộ luật hình sự; điểm b Khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch số 01/2023/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 18/01/2023 của Bộ C2-Bộ Q2-Tòa án nhân dân tối cao-Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định việc phối hợp trong thực hiện một số quy định của Luật thi hành án hình sự tại cộng đồng đối với bị cáo Trần Anh T.
Khoản 1 và Khoản 5 Điều 251; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 38; Khoản 2 và Khoản 3 Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Ngọc D1.
Khoản 1 và Khoản 5 Điều 251; điểm s, v Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 38; Khoản 2 và Khoản 3 Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn N.
Điểm a, b, c Khoản 1 và Khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b, c Khoản 2, điểm a Khoản 3 và Khoản 4 Điều 106; Điều 129; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ Khoản 2 Điều 53 Luật Viễn thông; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với các bị cáo Trần Anh T, Phạm Ngọc D1 và Hoàng Văn N.
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Anh T, Phạm Ngọc D1 và Hoàng Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt chính:
- Xử phạt bị cáo Trần Anh T 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 02 (hai) tháng 28 (hai mươi tám) ngày cải tạo không giam giữ chưa chấp hành về tội “Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin tài khoản Ngân hàng”, tại bản án hình sự sơ thẩm số 93/2022/HS-ST ngày 20/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên, chuyển đổi thành 29 (hai mươi chín) ngày tù. Buộc bị cáo Trần Anh T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng 29 (hai mươi chín) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 07/5/2024.
- Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc D1 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 12/9/2024.
- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 09/5/2024.
3. Về hình phạt bổ sung:
- Phạt tiền bị cáo Trần Anh T 07 (bẩy) triệu đồng sung ngân sách Nhà nước.
- Phạt tiền các bị cáo Phạm Ngọc D1 và Hoàng Văn N mỗi bị cáo 05 (năm) triệu đồng sung ngân sách Nhà nước.
4. Về biện pháp tư pháp:
- - Tịch thu cho tiêu hủy: 0,538g ma túy loại Ketamine, 1,036g ma túy loại MDMA, 04 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định và 01 vỏ phong bì ký hiệu T1 số 245/KL-KTHS.
- - Tịch thu cho tiêu hủy: 0,077g ma túy loại Ketamine, 0,119g ma túy loại MDMA, 02 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định và 01 vỏ phong bì ký hiệu T2 số 245/KL-KTHS.
- - Tịch thu cho tiêu hủy 22 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, 01 túi xách giả da màu nâu, 01 quần bò dài màu đen, 01 áo ngắn tay màu trắng không cổ và 01 áo ngắn tay có cổ, màu xám.
- - Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng trong tài khoản 235199699999 của Trần Anh T hiện đang bị phong tỏa tại Ngân hàng TMCP Q1- Chi nhánh H7. Tiếp tục duy trì Lệnh phong tỏa tài khoản số 94/LPT-ĐCSHS- KTMT ngày 10/6/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Hải Dương để đảm bảo thi hành án.
- - Tịch thu cho phát mại sung ngân sách Nhà nước giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh; số IMEI: 353730394155837 (mật khẩu mở khóa màn hình 000000); tịch thu cho tiêu hủy 01 thẻ SIM (vật lý) gắn trong điện thoại; yêu cầu Tổng công ty V2 tiến hành thu hồi số thuê bao 0374.222.202, tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong điện thoại.
- - Tịch thu cho tiêu hủy 01 biển số xe mô tô số 89B1-035.67.
- - Trả lại người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn T2, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn C, thị trấn T, huyện P, tỉnh Hưng Yên 01 xe máy nhãn hiệu Honda, SH màu đỏ, số máy KF25E0039450, số khung RLHKF2508GY039877.
(Vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/11/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Miện).
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với số tiền hiện có (nếu có) trong tài khoản số thuê bao di động 0906.032.207; yêu cầu Tổng công ty V3 thu hồi số thuê bao 0906.032.207.
5. Về án phí: Buộc các bị cáo Trần Anh T, Phạm Ngọc D1 và Hoàng Văn N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.
6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Trần Anh T, Phạm Ngọc D1 và Hoàng Văn N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo về phần có liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo về phần có liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Xuân Hiền |
Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 37/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Anh T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
