|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2024/HSST Ngày: 31 - 10 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thành Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trương Công Út
- Bà Trần Thị Như Quỳnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhi – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thành- Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 174/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn V, sinh ngày 02 tháng 02 năm 2000 tại huyện C, tỉnh Kiên Giang; nơi đăng ký thường trú: ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Kiên Giang; nơi ở hiện tại: Tổ F, ấp H, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (chết) và bà Trần Thị D; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: có 01 tiền án (ngày 11/7/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 12 tháng tù về tội Hủy hoại tài sản theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự); tiền sự: không; nhân thân: không tốt; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/6/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 17/6/2024 Vàng về nhà tại ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Kiên Giang thăm gia đình. Sau đó, V đi về huyện K. Trên đường về, đến khu vực sân bay R tỉnh Kiên Giang thì gặp đối tượng tên K (không rõ nhân thân) là bạn đi ghe từ năm 2015. Vàng biết K có sử dụng ma túy nên nhờ K mua dùm 400.000 đồng ma túy, K đồng ý. Khi mua xong, K đưa ma tuý cho V. V đem ma tuý về cất giấu tại nhà trọ thuộc tổ F, ấp H, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Vào ngày 21/6/2024 V lấy một ít ma túy ra sử dụng và số ma tuý còn lại V cất giấu trong bịch nylon có chữ bluewow tại phòng trọ Vàng thuê. Đến ngày 23/6/2024 V tiếp tục lấy ma túy ra định sử dụng nhưng bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Kiên Giang phát hiện bắt quả tang cùng với tang vật là 01 (một) bịch nylon màu trắng có nẹp gài, viền màu đỏ, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng hình dạng không đồng nhất, nghi là chất ma tuý, niêm phong gửi giám định. Quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình (Bút lục số 21, 44 đến 52, 54, 55, 57, 61).
Về vật chứng của vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ gồm (Bút lục số 21, 37, 40 đến 43): 01 (một) bịch nylon màu trắng có nẹp gài viền màu đỏ, bên trong có chứa các hạt tinh thể không đồng nhất nghi là chất ma túy niêm phong gửi giám định; 01 (một) chai thủy tỉnh, nắp màu đen đỏ, có gắn ống nhựa; 01 (một) bịch nylon màu cam có ký hiệu bluewow (đã qua sử dụng).
Tại Kết luận giám định số: 637/KL-KTHS ngày 29/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K đã kết luận: các hạt tinh thể màu trắng, hình dạng không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon màu trắng có nẹp gài viên màu đỏ gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 2,0034 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ. (Bút lục số 35).
Tại Bản cáo trạng số 38/CT-VKSKL ngày 08/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương đã truy tố bị cáo V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đối với người tên K đã có hành vi bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Văn V chưa xác định được nhân thân nên chưa có cơ sở xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K tiếp tục điều tra làm rõ và sẽ xử lý khi có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 668/2024, có chữ ký của Giám định viên Lê Đức H, người chứng kiến Huỳnh Chí N và hình dấu tròn của Phòng K1 - Công an tỉnh K; 01 (một) chai thủy tinh, nắp màu đen đỏ, có gắn ống nhựa; 01 (một) bịch nylon màu cam có ký hiệu bluewow (đã qua sử dụng).
Tại phiên tòa:
Bị cáo V không có ý kiến hay khiếu nại đối với kết luận giám định và khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như nội dung bản Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố tại phiên tòa.
Lời nói sau cùng của bị cáo: trong khoảng thời gian bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay, bị cáo đã thấy rất ăn năn, hối hận về hành vi sai trái của mình. Kính mong HĐXX xem xét xử nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm quay về giúp ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Căn cứ theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xét thấy Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Vào ngày 17/6/2024, sau khi mua được ma túy từ người tên K với giá 400.000 đồng, V đem ma túy về phòng trọ cất giấu. Trong thời gian từ ngày 21/6 đến ngày 23/6/2024, V liên tục lấy số ma túy đó ra sử dụng, số ma túy còn lại Vàng cất giấu trong 01 (một) bịch nylon màu trắng có nẹp gài, viền màu đỏ. Vào lúc 08 giờ ngày 23/6/2024, khi V đang định sử dụng ma túy thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Kiên Giang phát hiện bắt quả tang cùng với tang vật là 01 (một) bịch nylon màu trắng có nẹp gài, viền màu đỏ, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng hình dạng không đồng nhất, nghi là chất ma tuý, niêm phong gửi giám định. Tại Kết luận giám định số: 637/KL-KTHS ngày 29/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K đã kết luận: các hạt tinh thể màu trắng, hình dạng không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon màu trắng có nẹp gài viên màu đỏ gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 2,0034 gam.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo V khai nhận toàn bộ hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người chứng kiến sự việc bắt giữ bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy, phù hợp với vật chứng thu giữ và phù hợp với bản kết luận giám định. Do đó đủ căn cứ xét xử bị cáo về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người trưởng thành, đủ để nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm, xã hội lên án, nhưng chỉ vì thỏa mãn nhu cầu không lành mạnh mà bị cáo đã mua ma túy để sử dụng và tự ý cất giữ ma túy còn lại để dành sử dụng. Hành vi của bị cáo không chỉ gây ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe của bản thân mà còn gây ảnh hưởng xấu đến nhận thức và hành vi của tầng lớp thanh thiếu niên, làm phức tạp thêm tình hình an ninh và trật tự xã hội tại địa phương. Do đó, cần xử bị cáo mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: ngày 11/7/2023, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 12 tháng tù về tội Hủy hoại tài sản theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự, đến nay chưa được xóa án tích nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo V đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân không tốt.
[5] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS 2015 thì bì cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về biện pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo và xử lý vật chứng, chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 668/2024, có chữ ký của Giám định viên Lê Đức H, người chứng kiến Huỳnh Chí N và hình dấu tròn của Phòng K1 - Công an tỉnh K; 01 (một) chai thủy tinh, nắp màu đen đỏ, có gắn ống nhựa; 01 (một) bịch nylon màu cam có ký hiệu bluewow (đã qua sử dụng).
[7] Về án phí: áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Đối với đối tượng tên K đã bán ma túy cho bị cáo V, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K chưa xác định được đối tượng và sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 23/6/2024).
- Về biện pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo và xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 668/2024, có chữ ký của Giám định viên Lê Đức H, người chứng kiến Huỳnh Chí N và hình dấu tròn của Phòng K1 - Công an tỉnh K; 01 (một) chai thủy tinh, nắp màu đen đỏ, có gắn ống nhựa; 01 (một) bịch nylon màu cam có ký hiệu bluewow (đã qua sử dụng).
Toàn bộ vật chứng nêu trên đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang theo Quyết định chuyển vật chứng số 38/QĐ-VKSKL ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
- Về án phí:
Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thành Minh |
Bản án số 37/2024/HSST ngày 31/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 37/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Vàng 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 23/6/2024)
